Hồ Đắc Thạnh — ba chuyến Tàu 41 chở gần 200 tấn vũ khí vào Vũng Rô
Từ cuối tháng 11-1964 đến đầu tháng 2-1965, Hồ Đắc Thạnh chỉ huy Tàu 41 ba lần vào Vũng Rô, chở gần 200 tấn vũ khí, thuốc men và sáu cán bộ; chuyến đầu mở thành công bến mới cho Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Đêm 28 tháng 11 năm 1964, Tàu 41 do Hồ Đắc Thạnh làm thuyền trưởng lặng lẽ tiến vào Vũng Rô sau nhiều ngày tránh tàu chiến và máy bay tuần tra. Con tàu không mang số hiệu công khai, trong khoang có khoảng 60 tấn vũ khí, thuốc men cho chiến trường Khu 5. Mệnh lệnh ban đầu quy định tàu chỉ được ở bến từ 24 giờ đến 3 giờ sáng rồi phải rời ngay, bởi Vũng Rô gần đồn, sân bay đối phương và có địa hình khá trống. Nhưng lực lượng trên bến đã nhiều ngày thiếu gạo, phải ăn trái sung chờ tàu; hàng hóa lớn không thể dỡ xong trong ba giờ. Hồ Đắc Thạnh quyết định ở lại, cùng cán bộ bến tổ chức ngụy trang tàu dưới vòm lá và huy động người bốc dỡ. Quyết định vượt giới hạn thời gian mang nguy cơ cả tàu bị phát hiện, nhưng chuyến mở bến thành công, vũ khí được đưa vào bờ và Tàu 41 trở ra an toàn.
Hồ Đắc Thạnh sinh ngày 1 tháng 5 năm 1934 tại Tuy Hòa, Phú Yên, trong gia đình làm nghề biển. Ông nhập ngũ ngày 20 tháng 8 năm 1950, tham gia kháng chiến chống Pháp rồi tập kết ra Bắc sau Hiệp định Genève năm 1954. Năm 1958, khi nhiều đồng đội được đi học các trường quân sự khác, ông chuyển về Quân chủng Hải quân. Có lúc Thạnh nghĩ cơ hội trở lại miền Nam thực hiện lời hứa với quê hương đã xa, nhưng nghề biển và kinh nghiệm luồng lạch khiến ông phù hợp với một nhiệm vụ bí mật đặc biệt. Năm 1962, đang học giữa khóa tại Trường Sĩ quan Hải quân, ông được điều gấp về Đoàn 759, đơn vị tiền thân của Đoàn 125. Cán bộ, thủy thủ không được nói với gia đình về tuyến vận chuyển; tàu cải dạng như tàu đánh cá, xóa số và mang giấy tờ, vật dụng phù hợp với vỏ bọc.
Ngày 1 tháng 11 năm 1964, Tàu 41 vừa hoàn thành chuyến đi Cà Mau, đang họp rút kinh nghiệm thì nhận lệnh về cảng Đồ Sơn. Mười ngày sau, tàu có mặt để nhận nhiệm vụ mở đường vào Vũng Rô. Nhu cầu vũ khí của Khu 5 rất cấp bách, nhưng đây là bến mới, chưa có kinh nghiệm nhận tàu sắt lớn. Thạnh phải nghiên cứu hải đồ, dòng chảy, vị trí đồn bốt và phương án nhận tín hiệu bằng đèn pin. Trên biển, tàu đi trong sóng lớn, nhiều lần bị máy bay cùng tàu đối phương tiếp cận. Thuyền trưởng không thể đột ngột bỏ chạy vì sẽ làm lộ; ông giữ tốc độ và hướng như một tàu buôn, chỉ đổi tuyến khi có lý do tự nhiên. Kỹ năng ngụy trang không nằm ở lớp sơn mà ở toàn bộ hành vi của con tàu trước mắt người đang theo dõi.
Khi tàu và bến nhận đúng tín hiệu đêm 28 tháng 11, những người chưa từng gặp ôm chầm lấy nhau. Người trên bến nói giọng Phú Yên khiến Hồ Đắc Thạnh xúc động vì lần đầu sau nhiều năm tập kết được nghe lại tiếng quê. Tình cảm ấy không làm ông quên rủi ro. Ban ngày, tàu nằm sát vách núi dưới giàn lá, mọi hoạt động phải hạn chế tiếng động, khói bếp và dấu vết từ ngoài biển. Lực lượng bến cùng thủy thủ tạo một kỷ lục bốc dỡ so với điều kiện nhân lực ít, vận chuyển từng hòm vào sâu. Khi trở về Hải Phòng, Thạnh chuẩn bị nhận kỷ luật vì tự quyết định ở lại quá giờ cho phép. Cấp trên không khiển trách; tập thể Tàu 41 được tuyên dương, riêng thuyền trưởng nhận Huân chương Chiến công hạng Nhất, bởi quyết định đã hoàn thành cả hai mục tiêu: đưa hàng vào bờ và chứng minh bến Vũng Rô có thể tiếp nhận tàu.
Chưa đầy một tháng sau, ngày 20 tháng 12 năm 1964, Tàu 41 lại lên đường vào Vũng Rô. Lần này tàu mang khoảng 80 tấn vũ khí; Hồ Đắc Thạnh còn xin thêm ba tấn gạo tặng đồng bào đang thiếu đói. Việc chở gạo chiếm tải trọng có thể dành cho quân dụng, nhưng giữ sức dân bến cũng chính là bảo đảm tuyến vận chuyển. Chuyến thứ hai tiếp tục thành công. Đến chuyến thứ ba, tàu vào đúng đêm giao thừa Tết Ất Tỵ, rạng ngày 1 tháng 2 năm 1965. Thời tiết xấu khiến tàu mất nhiều ngày tránh sóng và tuần tiễu; lúc 23 giờ 50 phút mới áp được bến. Pháo và đèn dù từ đồn Ba Ty bất ngờ sáng lên, nhưng đó là loạt bắn giao thừa chứ chưa phải tàu bị lộ. Dưới vòm lá ngụy trang, thủy thủ và lực lượng bến chia bánh chưng, bánh tét, dưa hành, kẹo cùng một cành đào mang từ Nhật Tân.
Trong ba chuyến từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 2, Hồ Đắc Thạnh chỉ huy đưa gần 200 tấn vũ khí, trang bị, thuốc men cùng sáu cán bộ tăng cường vào Vũng Rô, phục vụ quân dân Phú Yên, Khánh Hòa và Đắk Lắk. Tàu 41 còn thực hiện nhiều chuyến khác; riêng Hồ Đắc Thạnh có 12 lần vượt biển vận chuyển vào Nam. Mỗi chuyến không chỉ đối mặt bão và địch mà còn với sai số hàng hải. Tàu phải đi xa bờ, hạn chế liên lạc vô tuyến, xác định vị trí bằng hải đồ, la bàn, sao trời và đặc điểm bờ khi tới gần. Nếu nhầm cửa vào, tàu có thể mắc cạn hoặc xuất hiện trước vùng kiểm soát. Thuyền trưởng luôn chuẩn bị phương án hủy tàu và hàng nếu bị vây, bởi để nguyên vũ khí cùng tài liệu rơi vào tay đối phương sẽ khiến cả tuyến bí mật bị lần ra.
Sau sự kiện Tàu 143 bị phát hiện tại Vũng Rô tháng 2 năm 1965, Đường Hồ Chí Minh trên biển bước vào thời kỳ khó khăn hơn. Năm 1966, Tàu 41 vẫn được chọn thí điểm đưa hàng vào một bãi ngang miền Trung, nơi ngay cả ngư dân địa phương thường dùng bè mảng vì tàu sắt rất khó tiếp cận. Tàu vào được vùng quy định, thả khoảng hai phần ba số vũ khí để lực lượng bờ vớt, nhưng sóng đánh cong chân vịt. Trời sắp sáng, Hồ Đắc Thạnh cho thủy thủ lên bờ và dùng bộc phá hủy tàu để giữ bí mật. Ông nhiều năm vẫn ám ảnh quầng lửa đỏ trên biển khi con tàu từng cùng mình qua bao chuyến tan ra. Việc phá phương tiện là một quyết định đau đớn nhưng đúng nguyên tắc: con người được bảo toàn, phần lớn hàng đã giao và đối phương không thu được nguyên vẹn con tàu.
Hồ Đắc Thạnh được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, mang quân hàm Trung tá và trở thành một nhân chứng quan trọng của Đoàn tàu Không số. Khi trở lại Vũng Rô, ông thường nhắc một nắm đất cô dân quân trao trong đêm giao thừa năm 1965. Thủy thủ mang nắm đất ấy ra Bắc và sau này tặng Bảo tàng Hải quân, như biểu tượng cho cuộc gặp giữa tàu với bến, miền Bắc với miền Nam. Các số liệu gần 200 tấn, ba chuyến trong hơn hai tháng và 12 lần vượt biển cho thấy quy mô công việc; còn ba tấn gạo, cành đào Nhật Tân và tiếng quê Phú Yên cho thấy mục đích sâu xa của nó. Hồ Đắc Thạnh không chỉ mở một lối tàu đi qua. Ông cùng đồng đội giữ một đường nối con người, vũ khí và hy vọng thống nhất trên mặt biển mà mỗi dấu vết đều phải xóa ngay sau khi con tàu rời bến.


