Hò địch vận và kháng chiến chống Pháp
Tiếng súng xâm lăng của thực dân Pháp là điềm báo một đại hoạ cho dân tộc Việt Nam. Chính quyền phong kiến thời bấy giờ đã bất lực trước lực lượng hùng hổ của chúng. Thế là nhân dân ta lâm vào cảnh “nước mất, nhà tan, đời nô lệ”! Biết bao gia đình đang chăm chút làm ăn trong cảnh đoàn tụ êm ấm đành chịu cảnh chia lìa, đau thương tang tóc:
Bỏ bầy con dại giữa dòng bơ vơ!
Muôn dân căm thù, ta thán:
Mẹ xa con vì bom vì đạn
Vợ xa chồng vì nạn chiến tranh!
Để tăng cường lực lượng đàn áp và thực hiện ý đồ thực dân, giặc Pháp bắt thanh niên ta vào đội lính đánh thuê của chúng, không những tại đất nước này mà còn đem thân đi làm bia đỡ đạn tại các xứ lạ quê người. Cảnh cha mẹ xa con, vợ xa chồng diễn ra khắp nơi. Người trụ cột của gia đình bị bắt đi, thiếu hẳn sức lao động sản xuất nên biết bao gia đình lâm vào cảnh khốn đốn. Tình cảm tự nhiên của người mẹ, người phụ nữ Việt Nam bị tổn thương lớn. Họ thốt lên tự đáy lòng những lời oán trách, căm hờn kẻ cướp nước đã chia cắt tình cảm thiêng liêng của họ:
Bất nhân chi ơi ông lính gác,
Bạc ác chi ơi hỡi ông Tây,
Bắt chồng tôi ra đi đầu đơn lính mộ, bỏ mẹ với thầy ai nuôi?
Hoặc than thở oán trách về cảnh khốn khổ của gia đình:
Anh đi theo Tây bỏ cho em một bầy con dại,
Đứa dắt đứa bồng quá thảm hại, trời ơi!
Sự thể hiện tâm tư, tình cảm thái độ của họ đã có những tác động nhất định đối với chồng, con mình trong hàng ngũ giặc. Nhưng những bày tỏ ấy mang tính tự phát. Chỉ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, tiến hành cuộc trường kỳ kháng chiến cứu nước thì những tình cảm, thái độ đó mới được tổ chức thành một hình thức tuyên truyền, vận động thanh niên nói riêng và những người Việt Nam nói chung đang ở trong hàng ngũ giặc quay về với gia đình, với cách mạng.
Những câu hò dạt dào tình cảm gia đình, quê hương đã thực sự làm rung động trái tim người lính đánh thuê ấy được gọi là HÒ ĐỊCH VẬN. Địch vận là vận động những người ở trong hàng ngũ địch trở về với dân tộc, với Tổ quốc, chủ yếu là vận động binh lính Việt Nam ở trong quân đội thực dân Pháp, nên lối hò này còn được gọi là HÒ BINH VẬN. Đây cũng là một mặt trận rất quan trọng trong tthời kì lực lượng Cách mạng chưa đủ mạnh về quân sự để trấn áp địch, một chiến thuật đánh vào lòng người, không tốn súng đạn mà ngày càng thêm bạn, bớt thù. Nhưng tổ chức hò như thế nào? Đây là một ví dụ điển hình:
Tại thị xã Quảng Trị thời pháp thuộc hai đồn pháp đóng ở thôn Tích Tường, xã Hải Lệ bây giờ. Một đồn đóng cạnh kho dầu nên được nhân dân gọi là đồn KHO DẦU, đồn kia đóng cạnh 1 sân bay, dân địa phương gọi là đồn SÂN BAY. Lính bảo vệ hầu hết là người Việt Nam. Các chị phụ nữ và các thiếu niên ở vùng Hải Lệ (chủ yếu là Tích Tường và Như Lệ) thường tổ chức những đêm hò cho lính ở hai đồn này nghe. Công tác tổ chức khá chu đáo và thận trọng. Để chuẩn bị cho một đêm hò có kết quả và an toàn, đội thiếu niên đã đi quan sát địa điểm thuận lợi (thường cách đồn ba bốn mươi mét) và đào hầm trú ẩn từ đêm trước, phòng khi địch trở chứng, xả súng bắn ra.
Đêm sau, cũng chính đội thiếu niên này bò đến gần đồn và dùng loa tay hoặc loa gò bằng tôn “thông báo”: “các chú, các anh trong hầm chú ý: chúng cháu xin mời các chú, các anh lắng nghe mấy chị, mấy o hò những chuyện hò tình cảm cho đỡ nhớ gia đình!”. Nếu không thấy những phản ứng gì bất lợi thì các o, các chị bắt đầu làm nhiệm vụ. Giọng hò truyền cảm, trong trẻo cất lên giữa đêm thanh vắng mang theo tình cảm dạt dào tha thiết của người mẹ, người vợ Việt Nam đã lôi cuốn được sự chú ý theo dõi của lính trong đồn. Họ đã lắng nghe với tất cả nỗi lòng của người lính đánh thuê thiếu thốn tình cảm gia đình. Giữa người hò và người nghe như có mối đồng cảm sâu xa. Lính canh đồn thích thú đến nỗi không còn giữ ý tứ gì nữa. Họ đốt pháo sáng lên và dùng loa tay gọi lớn về phía đội hò: “Hò đi, hò nữa đi, hay lắm!” Một điều mà đội hò tuyên truyền luôn phải chú ý là đừng bao giờ dùng nội dung, lời lẽ có vẻ khiêu khích, đã kích, hạ nhục, thô bạo. Và vì vậy các buổi hò đều đạt kết quả mong muốn. Nhiều binh lính đã bỏ hàng ngũ địch, mang súng về theo kháng chiến, họ còn vận động, tuyên truyền các binh lính khác cùng bỏ ngũ, và nhờ vậy lực lượng địch yếu dần và quân kháng chiến ngày càng mạnh thêm.



