HỒ DỤC – NGƯỜI CHIẾN SĨ PA CÔ GÙI CẢ CHIẾN TRƯỜNG TRÊN VAI
Anh hùng LLVTND Hồ Dục (sinh năm 1942), dân tộc Pa Cô, quê xã Hồng Kim, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, nhập ngũ tháng 3/1961. Từ chiến sĩ liên lạc, ông trở thành cán bộ vận tải chiến trường, có năm hoạt động trên đường gần 300 ngày, thường xuyên mang 70–75kg trong khi chỉ tiêu là 30kg/người và có chuyến đột xuất mang hơn 100kg. Năm 1963, ông có sáng kiến cải tiến cách mang những hòm hàng đặc biệt, giúp tăng năng suất gấp đôi. Năm 1966, Hồ Dục cùng tiểu đội vận chuyển 3 kho muối và hàng quan trọng trong 3 ngày, sớm hơn kế hoạch một ngày, sau đó bình tĩnh bảo vệ kho khi lực lượng đối phương tiến đến cách khoảng 15m mà vẫn không để lộ vị trí. Ngày 17/9/1967, ông được tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng LLVTND giải phóng.
Giữa những cánh rừng Trường Sơn và Tây Nguyên trong những năm chiến tranh, để một trận đánh có thể diễn ra, phía sau người lính chiến đấu là cả một lực lượng âm thầm gùi lương thực, muối và hàng hóa vượt núi, băng rừng, qua sông suối đến mặt trận.
Trong những con người làm nên tuyến hậu cần ấy, Hồ Dục, người dân tộc Pa Cô quê A Lưới, là một tấm gương đặc biệt. Có những năm ông ở trên đường vận tải gần 300 ngày, thường xuyên mang khối lượng hàng gấp đôi định mức và có chuyến đột xuất mang tới hơn 100kg.
Từ người thanh niên Pa Cô đến chiến sĩ cách mạng
Hồ Dục sinh năm 1942, dân tộc Pa Cô, quê xã Hồng Kim, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Từ khi còn nhỏ, ông đã tham gia hoạt động bí mật tại địa phương, thực hiện nhiều nhiệm vụ như rải truyền đơn, tuyên truyền vận động thanh niên tòng quân, tham gia du kích và chống càn.
Tháng 3/1961, Hồ Dục nhập ngũ.
Chỉ một tháng sau khi vào bộ đội, ông đã xung phong làm liên lạc, đảm nhiệm việc chuyển công văn cho đơn vị.
Nhiều đêm, Hồ Dục phải một mình mang công văn hỏa tốc từ Thừa Thiên ra Quảng Trị. Con đường xuyên rừng núi không chỉ hiểm trở mà còn tiềm ẩn nguy cơ gặp thú dữ hoặc lực lượng đối phương phục kích.
Dù vậy, người chiến sĩ trẻ vẫn hoàn thành nhiệm vụ.
Đó cũng là những bước chân đầu tiên đưa Hồ Dục đến với công việc mà sau này gắn liền với tên tuổi của ông: vận tải chiến trường.
Những bước chân không nghỉ giữa Tây Nguyên
Khi chuyển sang làm công tác vận tải ở Tây Nguyên, Hồ Dục phải đối mặt với một loại thử thách khác.
Không phải những trận đánh trực diện, mà là đèo cao, dốc đứng, sông suối, những cung đường dài và khối lượng hàng nặng trên vai.
Ông hiểu rằng những thứ mình đang mang không đơn thuần là hàng hóa. Chúng là vật chất cần thiết để lực lượng phía trước duy trì chiến đấu.
Vì vậy, Hồ Dục thường xuyên nhận phần việc khó và mang khối lượng gấp khoảng hai lần mức quy định.
Theo tư liệu, có năm ông hoạt động trên tuyến đường vận tải gần 300 ngày liên tục.
Có thời điểm yêu cầu của chiến trường quá khẩn trương, ông làm việc liên tục trong 3 tháng, mỗi ngày tăng thêm chuyến.
Đặc biệt, có chuyến đột xuất, Hồ Dục mang khối lượng hàng hơn 100kg.
Những con số ấy cho thấy mức độ gian khổ của người lính vận tải trên chiến trường rừng núi.
Định mức 30kg – Hồ Dục mang 70 đến 75kg
Năm 1962, Hồ Dục được điều lên công tác tại Quảng Trị.
Đơn vị đặt chỉ tiêu vận chuyển khoảng 30kg/người.
Nhưng bằng sự động viên và tinh thần gương mẫu của người phụ trách, Hồ Dục cùng đồng đội liên tục nâng cao năng suất.
Anh em trong đơn vị thường xuyên mang từ 45kg trở lên.
Riêng Hồ Dục thường mang tới:
70–75kg mỗi chuyến.
Ông không chỉ yêu cầu đồng đội cố gắng mà luôn tự mình nhận phần nặng hơn.
Chính cách làm ấy tạo nên sức thuyết phục trong đơn vị: người cán bộ không đứng phía sau thúc giục mà trực tiếp đi đầu trên những con đường gian khổ nhất.
Một sáng kiến giúp năng suất tăng gấp đôi
Năm 1963, Hồ Dục được chuyển về phụ trách một tổ vận tải tại Thừa Thiên.
Trong một số đợt vận chuyển, đơn vị phải mang những kiện hàng đặc biệt. Theo cách cũ, một hòm hàng cần hai người khiêng.
Hồ Dục bắt đầu suy nghĩ cách cải tiến.
Từ thực tế vận chuyển, ông tìm ra phương pháp mang phù hợp hơn, nhờ đó thay vì hai người khiêng một hòm, mỗi người có thể tự mang một hòm hàng.
Kết quả là hàng hóa vẫn được bảo đảm an toàn trong khi năng suất vận chuyển tăng gấp đôi.
Đây là một sáng kiến rất giản dị, nhưng trên chiến trường, nơi từng nhân lực và từng giờ vận chuyển đều quý giá, hiệu quả của nó có ý nghĩa thiết thực.
Cuộc chạy đua bốn ngày để cứu ba kho hàng
Năm 1966, Hồ Dục được bổ sung về Binh trạm trung, Phòng Hậu cần B3, phụ trách một tiểu đội vận tải xung kích.
Một nhiệm vụ đặc biệt được giao cho đơn vị:
Phải di chuyển 3 kho muối và hàng hóa quan trọng trong vòng 4 ngày để tránh một cuộc càn.
Thời gian rất gấp.
Khối lượng hàng lớn.
Hồ Dục nhanh chóng động viên toàn tiểu đội quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Bản thân ông tiếp tục nhận phần việc khó và mang nặng hơn đồng đội.
Kết quả, thay vì cần bốn ngày như kế hoạch, tiểu đội của Hồ Dục đã chuyển toàn bộ số hàng chỉ trong:
3 ngày.
Họ hoàn thành nhiệm vụ sớm hơn một ngày.
Khi đối phương chỉ còn cách 15 mét
Sau khi di chuyển hàng, Hồ Dục tiếp tục được giao nhiệm vụ bảo vệ kho.
Yêu cầu đặt ra là phải giữ tuyệt đối bí mật, chỉ được nổ súng khi tình thế thực sự cấp bách.
Lực lượng đối phương tiến ngày càng gần.
Hồ Dục cùng đồng đội vẫn giữ nguyên vị trí.
Khoảng cách thu hẹp dần.
Cuối cùng, họ tiến tới vị trí chỉ còn cách nơi cất giấu kho khoảng 15 mét.
Trong tình huống căng thẳng ấy, Hồ Dục vẫn bình tĩnh, không để lộ vị trí.
Đối phương không phát hiện được kho và sau đó phải rút ra.
Kho hàng được bảo vệ an toàn.
Chi tiết ấy cho thấy phẩm chất của Hồ Dục không chỉ là sức khỏe và khả năng chịu đựng phi thường, mà còn là sự bình tĩnh và ý thức kỷ luật trong thực hiện nhiệm vụ.
Người cán bộ luôn nhận phần nặng về mình
Hồ Dục còn được đồng đội quý mến bởi cách sống giản dị và tình cảm.
Khi công việc khó, ông nhận phần nặng.
Khi thiếu lương thực, ông nhường cơm cho đồng đội.
Khi có người đau ốm, ông tận tình chăm sóc và động viên.
Bởi vậy, sức mạnh của người cán bộ vận tải này không chỉ nằm ở đôi vai có thể mang những kiện hàng rất nặng.
Nó còn nằm ở khả năng gắn kết và động viên tập thể cùng vượt qua gian khổ.
Khi được tuyên dương Anh hùng, Hồ Dục là Trung đội phó thuộc Binh trạm trung, Phòng Hậu cần, Mặt trận Tây Nguyên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 17/9/1967, Hồ Dục được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Câu chuyện của Hồ Dục nhắc đến một lực lượng đôi khi ít xuất hiện trong những trang viết về chiến trận: những người lính vận tải.
Họ không chỉ mang hàng.
Trên những con đường xuyên rừng, vượt núi ấy, họ đang mang theo lương thực, vật chất và khả năng duy trì chiến đấu của cả mặt trận.
Và người chiến sĩ Pa Cô Hồ Dục đã đi qua những con đường ấy bằng một tinh thần rất giản dị:
việc càng khó, người cán bộ càng phải đi trước; hàng càng nặng, mình càng nhận phần nhiều hơn.

