Anh hùng Lực lượng vũ trang

HỒ ĐỨC THẮNG – NGƯỜI KÌNH NGƯ TUYẾT TRẮNG TRÊN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN

Trong ngôi nhà thờ nhỏ ở ấp Bào, xã Hiệp Thạnh, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, lớp con cháu của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Đức Thắng vẫn lặng lẽ gìn giữ từng kỷ vật mà ông để lại. Những chiếc la bàn đã sẫm màu muối biển, vài trang nhật ký mờ nét chữ… tất cả như vẫn còn âm vang nhịp sóng dữ của những chuyến vượt biển năm xưa. Đó không chỉ là niềm tự hào của một gia đình hay một dòng họ, mà còn là biểu tượng rạng ngời của cả làng biển Hiệp Thạnh – nơi có một người con trọn đời cống

Vĩnh Long17/11/2025Đoàn Trường Đại học Trà Vinh (Đoàn Trường Đại học Trà Vinh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đầu thập niên 1960, khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn ác liệt, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã quyết định mở tuyến vận chuyển chiến lược trên biển để đưa vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường Nam Bộ. Từ chủ trương ấy, Khu ủy Tây Nam Bộ giao nhiệm vụ cho các tỉnh ven biển nghiên cứu, tổ chức lực lượng thăm dò, mở bến tiếp nhận.

Tháng 6/1961, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Trần Văn Long – Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, một nhóm đảng viên giàu kinh nghiệm biển được tập hợp. Trong số ấy, đồng chí Nguyễn Văn Inh – Bí thư Chi bộ xã Hiệp Thạnh, người từng dạn dày sóng gió, được chọn làm thuyền trưởng. Từ khoảnh khắc ấy, cái tên “Hồ Đức Thắng” ra đời – một bí danh gói trọn tinh thần hành động của cả con tàu: Đoàn – Kết – Đấu – Tranh – Thắng – Lợi.

Trước khi gắn bó với Hiệp Thạnh, cuộc đời Nguyễn Văn Inh đã trải dài trên những con sóng cách mạng. Năm 1946, ông gia nhập Chi đội 14 Hải quân Nam Bộ; một năm sau, ông được giao làm thuyền trưởng, chỉ huy 12 chiến sĩ hóa trang thành thuyền buôn đưa tài liệu, thuốc men từ Nam ra Trung. Khi tàu bị địch phát hiện ngoài biển Nha Trang, ông buộc phải phá hủy tàu để giữ bí mật tổ chức, rồi bị bắt và giam cầm. Dù bị tra tấn dã man, ông vẫn không khai nửa lời – phẩm chất của một người lính biển kiên trung đã được thử lửa từ đó.

Năm 1950, Nguyễn Văn Inh trở thành Đại đội phó Đại đội 198, đơn vị vận tải của Hải quân Nam Bộ. Hàng loạt chuyến vận tải an toàn trong điều kiện địch kiểm soát dày đặc đã chứng minh sự mưu trí, gan dạ của ông – nền tảng để tổ chức tin tưởng giao trọng trách mở đường ra Bắc.

Ngày 25/8/1961, tại bến biển Trà Vinh, chiếc tàu gỗ 15 tấn, trang bị thô sơ, lặng lẽ nhổ neo. Trên tàu là thuyền trưởng Hồ Đức Thắng, Chính trị viên Lê Văn Lòng và bốn chiến sĩ thủy thủ. Họ mang trên vai sứ mệnh mở đường – một hành trình mà biển cả và kẻ thù đều rình rập.

Sóng gió dập vùi, tàu địch phong tỏa dày đặc, đói khát và hiểm nguy luôn bủa vây. Nhưng vượt lên tất cả là bản lĩnh của người thuyền trưởng Trà Vinh – người đọc biển như đọc chính lòng mình. Con tàu nhỏ bé ấy cuối cùng cũng ra tới miền Bắc và báo cáo trực tiếp với Bác Hồ cùng Trung ương. Chuyến đi thành công đã trở thành dấu mốc quan trọng, góp phần để Bộ Chính trị quyết định mở tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển – một kỳ tích chiến lược của quân đội ta.

Ngày tuyến đường chính thức hoạt động tại Đồ Sơn – Hải Phòng, Hồ Đức Thắng cùng các cán bộ, chiến sĩ được gặp Bác Hồ. Họ đã tuyên thệ: “Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh tất cả để hoàn thành nhiệm vụ.”

Từ năm 1961 đến 1966, trên cương vị thuyền trưởng và chính trị viên, Hồ Đức Thắng đã chỉ huy 16 chuyến tàu Không số, cập hầu hết các bến ở Nam Bộ, trong đó có bến Trà Vinh – B22. Ông đã vận chuyển an toàn hơn 1.000 tấn vũ khí và trang thiết bị vào chiến trường.

Đó là những năm tháng mà mạng sống của người lính nằm giữa lằn ranh của bí mật – hiểm nguy – hy sinh. Mỗi con sóng có thể là ­một cuộc truy kích, mỗi đêm tối có thể là một trận phục kích của kẻ thù. Nhưng bằng ý chí gang thép, óc phán đoán sắc bén và lòng trung thành tuyệt đối, người thuyền trưởng ấy đã đưa những chuyến tàu trở về an toàn như những kỳ tích.

Với thành tích đặc biệt xuất sắc, ngày 1/1/1967, Hồ Đức Thắng được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông cũng là một trong ba cán bộ đầu tiên của Đoàn tàu Không số được nhận danh hiệu cao quý này, cùng nhiều huân chương do chính Bác Hồ trao tặng.

Hồ Đức Thắng sinh năm 1922 tại Cù Lao Dài (Vũng Liêm, Vĩnh Long), trong một gia đình nông dân giàu truyền thống cách mạng. Cha mẹ và hai người anh đều tham gia hoạt động từ thời những năm 1930. Ông được kết nạp Đảng năm 1946 và tham gia Khởi nghĩa Nam Kỳ ngay tại quê hương.

Trong cuộc đời chiến đấu của mình, ít nhất ba lần ông bị địch bắt, giam cầm, nhưng chưa một lần khai báo phản bội. Kiên trung như cây đước bám gốc giữa sóng biển, ông luôn giữ trọn khí phách người chiến sĩ Nam Bộ.

Cơ duyên đưa ông đến Hiệp Thạnh bắt đầu khi Hải quân Nam Bộ chọn vùng rừng ven biển Mỹ Long – Hiệp Thạnh làm căn cứ. Tại đây, ông gặp và nên duyên với bà Nguyễn Thị Ba – cô gái làng biển Hiệp Thạnh. Từ đó, không chỉ gắn bó bằng tình yêu gia đình, ông còn gắn bó bằng cả sự nghiệp cách mạng, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như Xã đội trưởng, Bí thư Chi bộ, lãnh đạo phong trào Đồng khởi giành thắng lợi tại địa phương.

Sau ngày giải phóng, ông được phong Thiếu tá, rồi chuyển về Công xưởng Nhà Bè – Bộ Tư lệnh Hải quân. Năm 1980, sau hơn 40 năm cống hiến, ông nghỉ hưu và trở lại mảnh đất Hiệp Thạnh thân thương, nơi ông gắn bó đến phút cuối đời (mất năm 2005).

Quê hương Cù Lao Dài sinh ra Hồ Bá Thọ, nhưng chính làng biển Hiệp Thạnh đã rèn nên một Hồ Đức Thắng – người lính biển quả cảm, một “kình ngư” của đường Hồ Chí Minh trên biển, người thuyền trưởng thà hy sinh chứ không để bí mật rơi vào tay địch.

Những kỷ vật còn lưu giữ trong ngôi nhà thờ của ông hôm nay không chỉ kể về một đời người, mà còn kể về một thời hoa lửa – nơi những con người bình dị đã làm nên những chiến công kỳ vĩ.

Tổ quốc ghi công. Nhân dân tạc dạ.
Tên tuổi Hồ Đức Thắng sẽ còn sống mãi với Đường Hồ Chí Minh trên biển – con đường huyền thoại của dân tộc Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn