HỒ HỌC LÃM – NGƯỜI CÁCH MẠNG THẦM LẶNG GIỮA HAI DÒNG LỊCH SỬ
Hồ Học Lãm, tên khai sinh Hồ Xuân Lan, sinh năm 1848 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An – vùng đất nổi tiếng hiếu học và giàu truyền thống yêu nước. Từ nhỏ, ông đã tỏ ra thông minh, ham học và sớm tiếp thu tinh thần cách mạng của gia đình, nuôi chí lớn vì dân vì nước.
Khi phong trào Đông Du phát triển, Hồ Xuân Lan xuất dương sang Nhật Bản, đổi tên thành Hồ Học Lãm. Đến Tokyo, ông được Phan Bội Châu bố trí theo học tại Chấn Võ học hiệu, sau đó lại đổi tên là Hồ Hinh Sơn để thuận tiện cho việc đăng ký học tập. Đây là giai đoạn ông được đào tạo bài bản về quân sự, chuẩn bị cho con đường hoạt động cách mạng lâu dài.
Đầu năm 1909, chính phủ Nhật Bản trục xuất Phan Bội Châu và lưu học sinh Việt Nam. Phong trào Đông Du tan rã, nhiều người phải rời Nhật sang Trung Quốc hoặc Xiêm La. Hồ Học Lãm tiếp tục theo học tại Bảo Định sĩ quan học hiệu cùng các đồng chí như Lương Lập Nham, Lâm Quảng Trung.
Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, lật đổ triều đình Mãn Thanh. Hồ Học Lãm tốt nghiệp đúng thời điểm lịch sử chuyển mình và được biên chế vào Bộ Tổng Tham mưu quân cách mạng Trung Quốc, do Tưởng Giới Thạch làm Ủy viên Tổng tài. Ông từng tham gia nhiều trận đánh của Quốc Dân Đảng chống lại thế lực phản động Viên Thế Khải, tích lũy kinh nghiệm quân sự và chính trị quý báu.
Năm 1912, khi Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang Phục hội trên đất Trung Hoa, Hồ Học Lãm có mối quan hệ gắn bó mật thiết với các lãnh đạo của Hội. Từ năm 1916 đến 1929, ông phụ trách biên tập Bình sự tạp chí tại Hàng Châu, viết nhiều bài luận văn quân sự sâu sắc, thể hiện rõ nỗi đau mất nước và khát vọng độc lập dân tộc.
Không chỉ hoạt động bằng ngòi bút, gia đình Hồ Học Lãm tại Hàng Châu rồi Nam Kinh còn là một cơ sở cách mạng hết sức an toàn và tin cậy cho các nhà yêu nước Việt Nam lưu vong. Trong nhiều năm, ngôi nhà của ông trở thành nơi đón tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc các chiến sĩ cách mạng Việt Nam, trong đó có nhiều đồng chí cộng sản, cả về ăn ở, thuốc men và quần áo. Gia đình ông coi đó là nghĩa vụ thiêng liêng đối với Tổ quốc.
Năm 1928, theo sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, Lê Thiết Hùng được cử đến Nam Kinh gặp Hồ Học Lãm. Ông đã giúp bố trí cho Lê Thiết Hùng vào làm việc trong quân đội Quốc Dân Đảng, đồng thời giữ vai trò cầu nối quan trọng giữa Nguyễn Ái Quốc, Hồ Học Lãm và Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Trong những năm 1930–1935, bất chấp hiểm nguy, Hồ Học Lãm đã nhiều lần thu thập tin tức về các cuộc tấn công của quân Quốc Dân Đảng vào khu vực Xô viết, bí mật chuyển cho phía cách mạng Trung Quốc thông qua Lê Thiết Hùng, góp phần bảo vệ phong trào cách mạng.
Cuối năm 1935, ông cùng một số người yêu nước thành lập Việt Nam Độc lập vận động đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh – tổ chức này khác với Việt Minh thành lập năm 1941). Hồ Học Lãm được bầu làm Chủ tịch, tổ chức được chính quyền Tưởng Giới Thạch công nhận và cấp phép hoạt động.
Năm 1937, ông theo Bộ Tổng tham mưu chuyển đến Trùng Khánh. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã bí mật gặp ông và đề nghị cho Lê Thiết Hùng giải ngũ để trở về nước hoạt động cách mạng.
Những năm cuối đời, sức khỏe Hồ Học Lãm ngày càng suy yếu. Ông qua đời ngày 12 tháng 4 năm 1943 tại Quế Lâm, khép lại cuộc đời một chí sĩ yêu nước bền bỉ, khiêm nhường và tận tụy.
Thiếu tướng Lê Thiết Hùng từng kể lại lời nhận xét của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Ông Hồ Học Lãm là người yêu nước cùng thời với Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính… Tuy chưa phải là người cộng sản, nhưng chúng ta coi ông như người trong tổ chức ta. Nếu ông còn sống, có thể mời ông tham gia Chính phủ, làm Chủ tịch nước năm 1945.”
Hồ Học Lãm là hình ảnh tiêu biểu của lớp chí sĩ tiền bối: không ồn ào, không tranh danh, nhưng cả đời âm thầm đứng giữa hai dòng lịch sử, nối liền phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX với cách mạng Việt Nam hiện đại.



