Bài viết

HỒ KAN LỊCH – NỮ ANH HÙNG PA KÔ GIỮA ĐẠI NGÀN TRƯỜNG SƠN

Gia Lai21/05/2026Đoàn xã Đức Cơ (Đoàn xã Đức Cơ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
HỒ KAN LỊCH – NỮ ANH HÙNG PA KÔ GIỮA ĐẠI NGÀN TRƯỜNG SƠN

Tên câu chuyện:
“Hồ Kan Lịch – Nữ anh hùng Pa Kô giữa đại ngàn Trường Sơn”

HỒ KAN LỊCH – NỮ ANH HÙNG PA KÔ GIỮA ĐẠI NGÀN TRƯỜNG SƠN

Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, núi rừng Trường Sơn không chỉ là con đường huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam, mà còn là nơi ghi dấu biết bao tấm gương anh dũng, kiên cường của quân và dân ta. Trong số đó, Anh hùng Hồ Kan Lịch là một người con ưu tú của dân tộc Pa Kô, là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, trí thông minh, sự gan dạ và tinh thần bất khuất của phụ nữ Việt Nam.

Hồ Kan Lịch sinh năm 1943, trong một gia đình có truyền thống yêu nước ở xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, nay thuộc xã A Lưới 2, thành phố Huế. Sinh ra và lớn lên giữa núi rừng A Lưới, chị sớm chứng kiến cảnh quê hương bị bom đạn tàn phá, đồng bào bị kẻ thù đàn áp. Chính từ những đau thương ấy, trong trái tim người con gái Pa Kô đã sớm nhen lên lòng căm thù giặc và tình yêu quê hương sâu nặng.

Năm 14 tuổi, Hồ Kan Lịch theo chú ruột là Hồ Đức Vai tham gia làm giao liên cho cơ sở cách mạng ở xã Thượng Ninh. Công việc của chị là vận chuyển hàng hóa, đưa tin, phục vụ bộ đội từ đồng bằng lên vùng núi A Lưới. Những con đường rừng hiểm trở, những lần vượt qua vòng vây của địch, những chuyến đi trong mưa bom bão đạn đã rèn luyện cho chị sự mưu trí, bình tĩnh và gan dạ.

Trong một lần vận chuyển hàng hóa, Hồ Kan Lịch không may bị địch bắt và giam giữ tại Thừa Thiên Huế suốt ba tháng. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tra tấn dã man nhằm buộc chị khai báo cơ sở cách mạng. Nhưng dù còn rất trẻ, chị vẫn kiên quyết không khai nửa lời. Không khai thác được gì, kẻ địch buộc phải thả chị. Trở về quê hương, Hồ Kan Lịch lại tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng với ý chí càng thêm vững vàng.

Năm 1961, Hồ Kan Lịch được giao nhiệm vụ làm Đội trưởng đội du kích Hồng Bắc. Lúc đầu, đội du kích chủ yếu làm nhiệm vụ canh gác, phục vụ cơm nước cho bộ đội. Nhưng với tinh thần chủ động, chị đã tranh thủ thời gian luyện tập quân sự, vận động chị em trong bản làm chông, đặt bẫy, học cách chiến đấu và sẵn sàng tham gia đánh địch.

Năm 1963, chị chỉ huy một nhóm du kích gồm bảy người bí mật đánh đồn A Lưới. Nhờ mưu trí và dũng cảm, đội du kích đã lọt được vào trong đồn khi địch còn đang ngủ say. Sau khi tịch thu vũ khí của chúng, chị hô lớn đánh thức đồng đội cùng xông lên. Bị bất ngờ và không còn vũ khí trong tay, quân địch nhanh chóng bị tiêu diệt. Chiến công ấy thể hiện rõ bản lĩnh chỉ huy và sự táo bạo của người nữ du kích trẻ tuổi.

Tháng 5 năm 1964, Mỹ - ngụy huy động nhiều lực lượng đổ bộ lên A Lưới để càn quét các căn cứ cách mạng. Hồ Kan Lịch được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy sáu chị em du kích tập kích máy bay tại sân bay A Lưới. Trong tay tổ du kích lúc đó chỉ có một khẩu súng trường cũ thu được của quân Pháp, nhưng các chị vẫn kiên trì phục kích suốt hai ngày giữa đồi cỏ nắng nóng.

Khi máy bay địch vừa lọt vào tầm bắn, Hồ Kan Lịch bình tĩnh ra lệnh cho đồng đội chờ đúng thời cơ. Đến lúc chiếc máy bay vừa cất cánh, chị ngắm bắn chính xác vào bình xăng. Chiếc máy bay bốc cháy và rơi xuống cách nơi xuất phát khoảng một cây số. Chiến công ấy đã làm nức lòng quân dân vùng A Lưới. Hồ Kan Lịch trở thành người đầu tiên dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ trên chiến trường Tây Trường Sơn.

Không chỉ gan dạ trong chiến đấu, Hồ Kan Lịch còn là người chỉ huy biết thương yêu đồng đội, bình tĩnh xử lý những tình huống nguy hiểm. Tháng 3 năm 1965, sau một đêm vào điều tra sân bay A Lưới, tổ du kích của chị bị địch phục kích, một đồng đội bị bắt. Sau phút bất ngờ ban đầu, chị nhanh chóng tổ chức chiến đấu, tiêu diệt ba tên địch, cứu thoát đồng đội và đưa cả tổ trở về hậu cứ an toàn.

Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Kan Lịch đã lập nhiều thành tích xuất sắc. Chị chỉ huy đội du kích xã gồm 160 người, tham gia 49 trận đánh, bản thân chị bắn rơi một máy bay Mỹ, tiêu diệt nhiều tên địch, thu giữ nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh. Bên cạnh chiến đấu, chị còn tích cực lao động sản xuất, trồng ngô, trồng sắn, vận động nhân dân bám đất, bám làng, tham gia ủng hộ cách mạng.

Tháng 7 năm 1967, Hồ Kan Lịch vinh dự được dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua các lực lượng giải phóng quân miền Nam lần thứ hai và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Chị là nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang đầu tiên của dân tộc Pa Kô, là niềm tự hào lớn lao của đồng bào A Lưới và của phụ nữ Việt Nam.

Đặc biệt, Hồ Kan Lịch vinh dự nhiều lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tháng 5 năm 1968, chị được ra Hà Nội gặp Bác Hồ và được Người tặng một chiếc radio, một cây bút. Bác căn dặn chị rằng: “Làm anh hùng đã khó nhưng giữ được danh hiệu anh hùng càng khó. Cháu luôn phải phấn đấu để xứng đáng với danh hiệu đó và làm gương cho bà con noi theo. Cháu nên học tập, để sau này còn giúp đỡ bà con...” Lời dạy của Bác trở thành động lực để chị tiếp tục rèn luyện, phấn đấu và cống hiến.

Câu chuyện về Anh hùng Hồ Kan Lịch nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết tự hào về truyền thống yêu nước của dân tộc, trân trọng hòa bình, sống có lý tưởng và trách nhiệm. Từ núi rừng A Lưới, hình ảnh người nữ du kích Pa Kô gan dạ, mưu trí, bền bỉ chiến đấu vì quê hương đã trở thành biểu tượng đẹp của ý chí Việt Nam.

Hồ Kan Lịch mãi mãi là “bông hoa thép” giữa đại ngàn Trường Sơn, là niềm tự hào của dân tộc Pa Kô và là tấm gương sáng ngời cho các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn