Hồ Phòm - Cánh chim đầu đàn của đồng bào Khùa nơi cổng trời Cha Lo
Trưởng thành từ số phận mồ côi nơi đại ngàn, người con ưu tú của bộ tộc Khùa – Anh hùng Hồ Phòm – đã dệt nên một huyền thoại thầm lặng trên tuyến biên giới Việt - Lào. Giữa lằn ranh sinh tử của nhiệm vụ tình báo và những cuộc đấu trí nghẹt thở chống phỉ, ông không chỉ là khắc tinh của kẻ thù mà còn là cầu nối gắn kết tình thâm cốt nhục giữa các dân tộc anh em dưới bóng Trường Sơn vĩ đại.
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước trường kỳ, đường Hồ Chí Minh huyền thoại đi vào lịch sử không chỉ bằng những chiến công hiển hách hay những danh hiệu cao quý, mà còn bởi con đường ấy được kết tinh từ sức mạnh đại đoàn kết vô song giữa mọi tầng lớp nhân dân và cộng đồng các dân tộc anh em. Ngày ấy, mỗi đồn trạm Biên phòng dọc dải biên cương đều biến thành một trận địa pháo phòng không rực lửa. Mỗi chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang (CANDVT), mỗi tay súng dân quân tự vệ của đồng bào Mày, Sách, Khùa thuộc dân tộc Bru - Vân Kiều đều chắc tay súng, sẵn sàng nhằm thẳng máy bay Mỹ mà nhả đạn. Trên tuyến đường huyết mạch ấy, biết bao tấm gương đã anh dũng hy sinh, hiến dâng xương máu để giữ vững mạch máu giao thông cho Tổ quốc. Mỗi mét đường, mỗi nhành cây ngọn cỏ nơi đây đều thấm đẫm mồ hôi và máu của các anh hùng, liệt sĩ.
Cũng chính từ vạt rừng Trường Sơn hùng vĩ này, một người con ưu tú của đồng bào Khùa trên biên giới Việt Nam - Lào đã bước vào huyền thoại. Đó là Đại úy Hồ Phòm, người chiến sĩ CANDVT xuất sắc được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1970. Nhớ về niềm tự hào lớn lao của dân tộc mình, già làng Cao Quý Nhè bùi bùi kể lại: Thuở nhỏ, Hồ Phòm là một đứa trẻ mồ côi cha tội nghiệp, phải đi làm con nuôi xứ người từ sớm. Năm 1954, chàng thanh niên đầy nhiệt huyết tham gia lực lượng du kích địa phương và sớm được tín nhiệm bầu làm Phó Chủ tịch Mặt trận xã. Đến năm 1955, ông chính thức nhập ngũ, bước vào hàng ngũ Công an tỉnh Quảng Bình với nhiệm vụ bảo vệ an ninh nghiêm ngặt trên tuyến biên giới Việt - Lào. Năm 1959, ông chuyển sang lực lượng CANDVT (nay là Bộ đội Biên phòng), công tác tại Đồn Biên phòng Cha Lo, nhận trọng trách thọc sâu vào các phân khu của địch để nắm bắt tình hình cục diện và quân số đối phương.
Thời kỳ bão lửa ấy, không chỉ cá nhân đồng chí Hồ Phòm mà toàn thể gia đình ông phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc “3 không” nghiêm ngặt: không để ai biết mình làm gì, ai hỏi gì cũng trả lời là không thấy, và hoàn toàn không biết. Hàng ngày, ông phải rũ bỏ quân phục, khoác lên mình bộ thường phục, nói tiếng Lào bản xứ để thâm nhập sâu vào các căn cứ đầu sỏ của địch như đồn Lằng Khằng hay điểm chốt La Te. Đối mặt với muôn vàn hiểm nguy bủa vây, thậm chí đã chuẩn bị sẵn phương án tự sát nếu chẳng may bị lộ để bảo vệ bí mật quốc gia, Hồ Phòm đã mưu trí thu thập được hàng loạt tin tức tình báo quân sự tối mật. Những thông tin vô giá ấy đã giúp lực lượng ta phối hợp đánh tan đồn Lằng Khằng và điểm chốt La Te vào năm 1961, khai thông tuyến đường chiến lược cho các đoàn xe của ta tiến qua đất bạn Lào.
Tiếp đà thắng lợi, năm 1962, đồng chí Hồ Phòm được cử đi đào tạo quân sự chính quy tại Trường Quân báo rồi lập tức hành quân sang nước bạn Lào với vai trò cố vấn quân sự. Ông trực tiếp phụ trách hai bản Pha Xoóng và Cả Toóc – nơi người dân bộ tộc Lào phải sống cheo leo trong rừng sâu hoặc ẩn nấp nơi hang đá, chịu cảnh đói nghèo triền miên. Lợi dụng tình cảnh ngặt nghèo đó, bọn phỉ và các thế lực phản động đã lập chốt sâu trong rừng để khống chế tư tưởng, ép buộc dân bản phải nộp lương thực cho chúng. Những năm tháng cống hiến trên đất bạn, bên cạnh hoạt động nghiệp vụ quân báo, đồng chí Hồ Phòm còn bền bỉ xây dựng cơ sở cách mạng, kiên trì tuyên truyền để nhân dân các bộ tộc Lào anh em không nghe theo lời dụ dỗ của giặc, một lòng ủng hộ sự nghiệp cách mạng hai nước. Có lần, bọn phản động luồn sâu, leo cao vào tận bộ máy chính quyền địa phương của bạn, ông đã nhạy bén phát hiện, báo cáo lên cấp trên và trực tiếp tổ chức lực lượng truy bắt gọn 6 tên cốt cán.
Thật khó có thể dùng lời lẽ nào tả xiết những gian khổ, hiểm nguy mà người chiến sĩ CANDVT người Khùa ấy đã phải nếm trải. Chỉ biết rằng, vượt qua những trận sốt rét ác tính run người, vượt qua làn sơn lam chướng khí độc địa nơi rừng thiêng nước độc và cả hai lần cận kề lưỡi hái của tử thần, ông vẫn kiên cường đứng vững để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Tức tối vì biết có cán bộ Việt Nam hoạt động trên địa bàn, trùm phỉ ráo riết tổ chức truy kích và treo giải thưởng lớn: “ai giết được Hồ Phòm sẽ được thưởng 1 bao gạo, 1 túi muối và 1 con lợn giống”. Chúng liên tục mở các cuộc quấy phá bản làng nhằm cướp bóc, khủng bố tinh thần nhân dân; nhưng mỗi bận như thế, Hồ Phòm lại cùng các đồng chí sát cánh hỗ trợ đồng bào đánh trả quyết liệt, đuổi sạch bóng quân thù ra khỏi bờ cõi bản làng.
Lần thoát chết ngoạn mục đầu tiên xảy ra khi ông cùng một đồng chí người Lào đi trinh sát, bất ngờ lọt vào trận địa phục kích của hai tên phỉ tại ngã ba Lằng Khằng. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, ông nhanh chóng đẩy người đồng đội vào góc khuất an toàn rồi một mình nổ súng đánh trả điên cuồng. Đến khi súng cạn sạch đạn, hai người nhanh trí ra hiệu cho nhau rồi cùng nằm sấp xuống mặt đường giả vờ trúng thương đã chết. Hai tên phỉ phần vì chủ quan khinh suất, phần vì lo sợ các chiến sĩ cách mạng khác sắp kéo đến ứng cứu nên đã vội vàng tháo lui. Lần chết hụt thứ hai lại là một câu chuyện được đồng chí Hồ Phòm hóm hỉnh kể lại cho đồng đội và dân làng nghe: “Bận đó, tôi đến ẩn nấp tại nhà một hộ dân theo cách mạng Lào, nhà chỉ có một bà mẹ già và cô con gái nhỏ. Địch đánh hơi thấy có người lạ trong bản liền huy động cả một sư đoàn đến bao vây ráp nát. Lúc ấy nếu tông cửa bỏ chạy chắc chắn sẽ bị làn đạn bắn hạ, tôi liền dắt tay cô con gái vào phòng trong, vừa trấn an cô vừa lên sẵn phương án tự sát để bảo vệ bí mật quốc gia đến cùng. Cũng may nhờ bề ngoài rám nắng giống người Lào và nói tiếng bản địa vô cùng thành thạo, khi quân địch xộc vào tra hỏi, tôi bình tĩnh đáp bằng tiếng Lào: ‘Tôi là con rể nhà này, mới đi làm ăn xa về’. Bà mẹ già cũng can trường xác nhận với tên chỉ huy tôi chính là con rể bà, nhờ vậy chúng tin sái cổ rồi rút quân ra ngoài”.
Năm 1966, đế quốc Mỹ điên cuồng điều động máy bay oanh tạc dữ dội dọc tuyến biên giới do Đồn Biên phòng Cha Lo quản lý. Tiếng bom đạn gầm trời khiến nhân dân các bản làng hoang mang tột độ, đồng loạt bỏ nhà cửa để trốn sâu vào các hang đá trong rừng thẳm. Thực hiện chỉ thị mật của Đảng ủy cấp trên và Ban chỉ huy đồn, đồng chí Hồ Phòm trực tiếp chỉ huy một tổ công tác cơ sở luồn rừng, lặn lội vào khắp các hang động tối tăm để tìm kiếm và vận động quần chúng. Ông kiên trì hướng dẫn người dân cách ẩn nấp, đào hầm phòng tránh bom đạn an toàn. Sau một thời gian dài bền bỉ giác ngộ, ông đã thuyết phục được hầu hết đồng bào rời hang đá quay trở về bản cũ để tái thiết cuộc sống, khôi phục sản xuất. Dưới sự dìu dắt tận tình của ông, bản Cà Ai thuộc xã Dân Hóa đã vươn lên trở thành lá cờ đầu của toàn huyện về phong trào bảo vệ an ninh trị an và tăng gia sản xuất giỏi, kiến thiết đời sống văn hóa mới. Đặc biệt, đồng chí Hồ Phòm còn tháo gỡ thành công những mâu thuẫn, hận thù thâm căn cố đế từ ngàn đời xưa giữa người Khùa và người Mày, thắt chặt lại sợi dây đoàn kết thân tộc, nghĩa tình giữa các bản làng trong vùng biên giới.
Với những cống hiến thầm lặng nhưng vô cùng vĩ đại ấy, ông không chỉ góp công lớn cùng đơn vị giữ vững biên cương, giúp đỡ cách mạng bạn toàn diện, mà còn xây dựng vững chắc trận địa lòng dân, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho các đoàn cán bộ hành quân nam - bắc cùng các tuyến đường dây giao liên, vận tải quân sự. Năm 1969, đồng chí Hồ Phòm vinh dự đại diện cho lực lượng tình báo hoạt động tại Lào ra thủ đô Hà Nội tham dự cuộc họp hiệp đồng chiến đấu đặc biệt với quân biệt động Sài Gòn. Tiếp đó, ngày 25 tháng 8 năm 1970, ông cùng các đồng chí kiên trung của lực lượng CANDVT như Trương Thành Nam, Võ Hồng Tuyên, Lê Duy Cận, Quàng Văn Liến... trang trọng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Trong chuyến đi lịch sử ấy, ông vinh dự được diện kiến Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Lời căn dặn của người Anh cả Quân đội nhân dân Việt Nam năm ấy đã khắc sâu vào tâm khảm ông suốt cuộc đời: vai trò của người chiến sĩ quân báo vô cùng quan trọng nhưng cũng đầy thầm lặng và nguy hiểm, phải luôn sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì Tổ quốc mà không cần mưu cầu khắc cốt ghi danh.
Khi giang sơn thu về một mối, miền Nam hoàn toàn giải phóng, người anh hùng của cổng trời Cha Lo đã viết đơn xin phục viên trở về quê hương. Ông chân thành bộc bạch: “Những năm tháng thanh xuân tươi đẹp nhất, tôi đã tạm gác lại hạnh phúc riêng để hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng. Giờ đây đất nước đã hoàn toàn thanh bình, tôi muốn dành trọn khoảng thời gian còn lại để cùng vợ chăm lo, nuôi nấng đàn con thơ khôn lớn”. Năm 2000, do tuổi cao sức yếu, vị anh hùng đại ngàn đã nhẹ bước đi về miền mây trắng. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, ông vẫn đau đáu để lại lời di huấn thiêng liêng cho các con của mình: “Đồng bào mình có được cuộc sống ấm no như ngày hôm nay là nhờ ơn sâu nghĩa nặng của Đảng, của cách mạng, của Bác Hồ, của Đại tướng và biết bao người con đất Việt đã anh dũng ngã xuống. Vì thế, các con và dân bản phải đời đời ghi nhớ công ơn trời biển đó. Giờ đây đất nước đã vắng bóng quân thù, các con phải một lòng một dạ đi theo Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của Nhà nước, cùng sát cánh với các lực lượng chức năng quyết tâm giữ vững chủ quyền an ninh biên cương của Tổ quốc”.
Những bản làng nhỏ năm xưa của đồng bào Pa Kô - Vân Kiều từng tham gia xẻ dọc Trường Sơn mở đường, gùi hàng ra trận địa, ngày đêm tăng gia sản xuất tiếp tế lương thực cho bộ đội Trường Sơn, giờ đây đều đã thay da đổi thịt, cán đích nông thôn mới và trở thành những điểm sáng văn minh nơi biên cương hòa bình – hội nhập. Và trên mảnh đất hồi sinh từ tro tàn ấy, câu chuyện huyền thoại về người anh hùng Hồ Phòm vẫn vang vọng mãi trong những tiết học biên cương của đàn em thơ.



