HỒ THỊ CÚC – NGƯỜI Ở LẠI DƯỚI LÒNG ĐẤT ĐỒNG LỘC
Tác giả: Phan Thị Thanh Thuỷ

Có những cái tên được nhắc đến cùng một địa danh. Nhưng khi tìm hiểu kỹ hơn, tôi nhận ra phía sau cái tên chung “Mười cô gái Đồng Lộc” là mười cuộc đời hoàn toàn khác nhau, mỗi người một hoàn cảnh, một tính cách, một ước mơ. Và trong số đó, câu chuyện về Hồ Thị Cúc khiến tôi ám ảnh bởi hình ảnh người đồng đội đã được tìm thấy sau cùng, giữa những ngày tháng 7 năm 1968.
Hồ Thị Cúc sinh năm 1944, quê ở xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Chị là Tiểu đội phó Tiểu đội 4, Đại đội 552, đơn vị thanh niên xung phong làm nhiệm vụ tại Ngã ba Đồng Lộc. Năm ấy, Cúc mới 24 tuổi – cái tuổi mà một cô gái vẫn còn có thể nghĩ về gia đình, về tình yêu và một tương lai bình thường. Nhưng chiến tranh đã đưa chị đến một nơi mà mỗi ngày làm nhiệm vụ đều phải đối mặt với bom đạn. (btllang.mod.gov.vn)
Ngã ba Đồng Lộc khi ấy là một trọng điểm giao thông đặc biệt quan trọng. Những tuyến đường qua đây liên tục bị máy bay Mỹ đánh phá nhằm cắt đứt sự chi viện từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Những thanh niên xung phong phải bám trụ, san lấp hố bom, sửa đường, bảo đảm cho những đoàn xe tiếp tục vượt qua. Công việc tưởng như chỉ là đào đất, lấp hố, nhưng mỗi lần bước ra khỏi nơi trú ẩn cũng đồng nghĩa với việc có thể phải đối diện với một trận bom mới. (vietnamplus.vn)
Ngày 24/7/1968, Tiểu đội 4 nhận nhiệm vụ ra mặt đường làm việc. Khi ấy, cả tiểu đội có 10 người: Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc, Nguyễn Thị Nhỏ, Dương Thị Xuân, Võ Thị Hợi, Nguyễn Thị Xuân, Hà Thị Xanh, Trần Thị Hường, Trần Thị Rạng và Võ Thị Hà. Họ cùng nhau làm nhiệm vụ giữa một ngày hè khắc nghiệt, trong khi máy bay vẫn liên tục hoạt động trên bầu trời. (btllang.mod.gov.vn)
Đến khoảng 16 giờ 30 phút, trận bom thứ 15 trong ngày trút xuống khu vực các chị đang làm nhiệm vụ. Một quả bom đánh trúng đội hình 10 cô gái. Sau tiếng nổ, đất đá phủ kín nơi các chị vừa làm việc. Cả mười người hy sinh. (vietnamplus.vn)
Đồng đội lập tức tổ chức tìm kiếm.
Chín người lần lượt được tìm thấy.
Nhưng Hồ Thị Cúc vẫn chưa được tìm thấy.
Đó là một trong những chi tiết khiến câu chuyện Đồng Lộc trở nên đặc biệt đau lòng. Chín người đã được đưa lên, xếp thành hàng ngang như khi còn sống vẫn tập hợp trong tiểu đội. Nhưng thiếu Cúc.
Đồng đội không bỏ cuộc.
Họ tiếp tục đào.
Từng nhát cuốc được đưa xuống đất.
Họ gọi tên chị.
Họ tìm kiếm trong khu vực xung quanh hố bom.
Theo tư liệu của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đến ngày thứ ba, đồng đội mới tìm thấy Hồ Thị Cúc trên đồi Trọ Voi, cách hố bom khoảng 20m. Chị được tìm thấy trong tư thế ngồi, bên cạnh có chiếc cuốc; mười đầu ngón tay bị ứa máu vì chị đã cố bới đất tìm đường thoát. (btllang.mod.gov.vn)
Tôi nghĩ đây là hình ảnh khó có thể quên khi đọc về Đồng Lộc.
Một cô gái 24 tuổi.
Một chiếc cuốc.
Mười đầu ngón tay.
Và những lớp đất đá đã vùi lấp chị.
Không cần thêm bất cứ lời kể nào quá lớn lao, những chi tiết ấy đã đủ cho chúng ta hình dung sự khốc liệt của khoảnh khắc cuối cùng.
Nhưng điều khiến câu chuyện về Hồ Thị Cúc được nhớ mãi còn nằm ở cách đồng đội tìm kiếm chị.
Họ không coi đó chỉ là việc tìm một người đã hy sinh.
Họ tìm Cúc như tìm một người em.
Một người chị.
Một người đồng đội đã cùng họ sống và làm việc trong những ngày tháng khốc liệt.
Và trong những giờ phút đau thương ấy, nhà thơ Yến Thanh đã viết bài thơ “Cúc ơi!” để gọi người đồng đội đang nằm lại dưới lòng đất.
Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh Tiểu đội đã trở về xếp hàng ngang, chín người đã đủ, chỉ thiếu Cúc. Đó không đơn thuần là một bài thơ về sự hy sinh. Nó là tiếng gọi của những người còn sống dành cho một người bạn đã không thể trở về tập hợp cùng mình nữa. (btllang.mod.gov.vn)
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Đặc biệt, những chi tiết rất đời thường trong bài thơ khiến câu chuyện trở nên gần gũi: dòng sông Ngàn Phố, quýt đỏ Sơn Bằng, những ngày chăn trâu cắt cỏ, bài toán lớp Năm còn chưa nhớ, chiếc gối còn thêu dở và bữa cơm chiều chưa ăn. Những điều nhỏ bé ấy nhắc người đọc rằng trước khi trở thành một cái tên trong lịch sử, Hồ Thị Cúc từng là một cô gái bình thường của một miền quê Hà Tĩnh. (btllang.mod.gov.vn)
Có lẽ đó cũng là điều tôi muốn giữ lại nhất khi kể câu chuyện này.
Đừng chỉ nhớ Hồ Thị Cúc bằng hai chữ “liệt sĩ”.
Hãy nhớ rằng chị từng có một quê hương.
Có những người thân chờ đợi.
Có những người đồng đội yêu quý chị.
Có những điều bình dị chị chưa kịp làm xong.
Và có một chiếc gối còn thêu dở.
Chiến tranh đã lấy đi của chị cơ hội trở về nhà, nhưng không thể lấy đi ký ức mà những người ở lại dành cho chị.
Ngày nay, khi đến Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, người ta có thể dâng hương trước phần mộ của mười cô gái. Tên của Hồ Thị Cúc đứng bên cạnh chín người đồng đội, trở thành một phần không thể tách rời của câu chuyện Đồng Lộc. Khu di tích này đã được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt vào năm 2013. (tamdiep.ninhbinh.gov.vn)
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua.
Ngã ba năm xưa đã trở thành một địa danh lịch sử.
Những hố bom được giữ lại như chứng tích.
Những nấm mộ trở thành nơi tưởng niệm.
Nhưng câu chuyện về Hồ Thị Cúc vẫn khiến người ta lặng đi, bởi nó không chỉ kể về cái chết của một người trẻ mà còn kể về tình đồng đội – thứ tình cảm đã khiến những người còn sống nhất quyết không rời đi khi chưa tìm thấy người cuối cùng.
Chín người đã được đưa về. Nhưng với họ, tiểu đội vẫn chưa đủ mười.
Vì vậy, họ tiếp tục tìm.
Và cuối cùng, họ đã đưa Cúc trở về với đồng đội.
Có lẽ đó là điều đẹp nhất trong một câu chuyện rất buồn: giữa chiến tranh, con người vẫn không bỏ lại nhau.
Hồ Thị Cúc nằm lại ở Đồng Lộc khi mới 24 tuổi. Chị không có cơ hội chứng kiến ngày đất nước thống nhất, không có cơ hội trở về Sơn Bằng, không có cơ hội hoàn thành chiếc gối còn thêu dở. Nhưng tên chị vẫn còn ở đó, cùng chín người đồng đội, cùng Ngã ba Đồng Lộc và cùng những câu chuyện được kể lại qua nhiều thế hệ.
Có những người ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng ký ức về họ lại sống rất lâu. Hồ Thị Cúc là một trong những người như thế. Và mỗi lần câu “Cúc ơi!” được nhắc lại, đó không chỉ là tiếng gọi một người đã khuất, mà còn là lời nhắc chúng ta đừng quên một thế hệ đã từng sống, từng yêu thương và từng có những ước mơ rất bình dị giữa một thời chiến tranh khốc liệt.



