Bài viết

HỒ THỊ DỮ: MỘT CUỘC ĐỜI BẮT ĐẦU TRONG LÒNG ĐỊA ĐẠO VỊNH MỐC

HỒ THỊ DỮ: MỘT CUỘC ĐỜI BẮT ĐẦU TRONG LÒNG ĐỊA ĐẠO VỊNH MỐC Giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt ở vùng đất Vĩnh Linh, Quảng Trị, khi mặt đất rung chuyển bởi bom đạn, một bé gái đã cất tiếng khóc chào đời trong lòng địa đạo Vịnh Mốc. Đứa trẻ ấy là Hồ Thị Dữ, một trong 17 người con được sinh ra dưới lòng đất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Cuộc đời bà là câu chuyện đặc biệt về tình mẫu tử, nghị lực sống và khát vọng hòa bình của những con người không chịu khuất phục trước chiến tranh.

28/10/2026Lê Thị Minh (phường Tây Tựu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

HỒ THỊ DỮ: MỘT CUỘC ĐỜI BẮT ĐẦU TRONG LÒNG ĐỊA ĐẠO VỊNH MỐC

Giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt ở vùng đất Vĩnh Linh, Quảng Trị, khi mặt đất rung chuyển bởi bom đạn, một bé gái đã cất tiếng khóc chào đời trong lòng địa đạo Vịnh Mốc. Đứa trẻ ấy là Hồ Thị Dữ, một trong 17 người con được sinh ra dưới lòng đất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Cuộc đời bà là câu chuyện đặc biệt về tình mẫu tử, nghị lực sống và khát vọng hòa bình của những con người không chịu khuất phục trước chiến tranh.

Địa Đạo Vịnh Mốc - Khám phá ngôi làng dưới lòng đất

Ảnh 1. Địa đạo Vịnh Mốc, Quảng Trị – công trình lịch sử từng che chở người dân Vĩnh Linh trong những năm chiến tranh phá hoại. Ảnh minh họa di tích.

Khi lòng đất trở thành mái nhà

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Vĩnh Linh là một trong những vùng đất phải chịu sự đánh phá ác liệt của không quân và pháo binh Mỹ. Nằm ở phía bắc giới tuyến quân sự tạm thời theo Hiệp định Genève năm 1954, vùng đất này vừa là hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam, vừa giữ vai trò quan trọng trong việc chi viện cho đảo Cồn Cỏ.

Bom đạn liên tiếp trút xuống khiến nhiều ngôi làng bị phá hủy, cuộc sống bình thường của người dân bị đảo lộn. Trước hoàn cảnh ấy, quân và dân Vĩnh Linh đã lựa chọn một cách tồn tại đặc biệt: đào sâu vào lòng đất để giữ làng, bảo vệ tính mạng và tiếp tục chiến đấu.

Địa đạo Vịnh Mốc được xây dựng từ năm 1965, trên khu vực đồi đất đỏ bazan ven biển. Với những dụng cụ đào đất thô sơ và sức người bền bỉ, quân dân địa phương từng bước kiến tạo nên hệ thống đường hầm liên hoàn, có ba tầng và 13 cửa ra vào, trong đó bảy cửa hướng ra biển, sáu cửa thông lên đồi.

Đây không đơn thuần là nơi tránh bom. Trong lòng địa đạo có các không gian sinh hoạt gia đình, giếng nước, nơi hội họp, cơ sở cứu chữa thương binh và khu vực dành cho sản phụ. Những hốc đất nhỏ dọc đường hầm trở thành chỗ ở của các gia đình. Ánh sáng tự nhiên hiếm hoi được thay bằng những ngọn đèn dầu.

Ở đó, người dân tiếp tục nấu ăn, chăm sóc con nhỏ, tổ chức công việc, hỗ trợ bộ đội và tìm cách duy trì nhịp sống giữa chiến tranh.

Mỗi mét đường hầm là thành quả của sức lao động và ý chí bám trụ. Địa đạo đã trở thành một ngôi làng đặc biệt, nơi mặt đất có thể bị bom đạn cày xới nhưng sự sống vẫn được gìn giữ bên dưới.

Tiếng khóc đầu đời giữa mùa mưa bom đạn

Cuối năm 1967 – đầu năm 1968, giữa những ngày chiến tranh căng thẳng, bà Hồ Thị Dữ chào đời trong địa đạo Vịnh Mốc.

Đó không phải một cuộc sinh nở trong điều kiện bình thường.

Theo lời bà Dữ kể lại với các cơ quan báo chí, mẹ bà mang thai và sinh con đúng mùa mưa. Nước từ phía trên thấm qua các vách đất xuống nơi trú ẩn. Những lối đi vốn chật hẹp trở nên ẩm ướt, có chỗ nước đọng dưới nền. Người dân phải dùng những tấm nilon để che chắn, hạn chế nước nhỏ xuống chỗ nằm.

Mẹ bà phải thường xuyên đi lại trong môi trường ngập nước, đến mức đôi chân sưng tấy. Không gian sống thiếu ánh sáng, thiếu sự khô ráo và cả những điều kiện thiết yếu dành cho một người phụ nữ sắp sinh.

Trong hoàn cảnh ấy, một sinh linh bé nhỏ đã được đưa đến với cuộc đời.

Trẻ em có nên tham quan Địa đạo Vịnh Mốc? Những điều cần biết

Ảnh 2. Không gian nhà hộ sinh được phục dựng tại địa đạo Vịnh Mốc, tái hiện điều kiện sinh nở thiếu thốn của phụ nữ thời chiến. Ảnh: Nhật Anh/Báo Dân trí. Đây là mô hình tái hiện, không phải ảnh chụp ca sinh của bà Hồ Thị Dữ.

Sự kiện bà Dữ chào đời không được ghi nhận bằng những hình ảnh riêng của cuộc vượt cạn. Những gì thế hệ sau biết về thời khắc ấy chủ yếu đến từ lời kể của người mẹ, được con gái gìn giữ trong ký ức gia đình.

Mỗi lần nhắc lại chuyện sinh con dưới địa đạo, mẹ bà lại xúc động rơi nước mắt. Với người mẹ ấy, ký ức chiến tranh không chỉ có tiếng bom, nỗi sợ và sự thiếu thốn, mà còn có khoảnh khắc đứa con được sinh ra an toàn.

Điều đặc biệt là câu chuyện ấy không chỉ thuộc về riêng gia đình Hồ Thị Dữ.

Trong suốt những năm tháng tồn tại của làng hầm Vịnh Mốc, đã có 17 em bé chào đời dưới lòng đất. Các em được người lớn chăm sóc, che chở bằng những phương tiện hết sức giản đơn. Giữa một thời kỳ mà sự sống luôn bị đe dọa, tiếng khóc trẻ thơ trở thành dấu hiệu của niềm tin và sự tiếp nối.

Không có sự đối lập nào sâu sắc hơn thế: phía trên là chiến tranh tàn phá, phía dưới là những người mẹ đang sinh con, nuôi dưỡng một thế hệ mới.

Cuộc sơ tán của em bé Vịnh Mốc

Chưa kịp lớn lên giữa những lối hầm đất đỏ, Hồ Thị Dữ đã phải theo mẹ rời quê hương.

Theo tư liệu Báo Nhân Dân, vài tháng sau khi sinh, bà được mẹ đặt vào một chiếc thúng để đưa đi sơ tán ở Quảng Bình. Cuộc chia ly kéo dài khoảng sáu năm, cho đến năm 1974, mẹ con bà mới trở lại vùng đất Vịnh Mốc.

Đối với một đứa trẻ còn quá nhỏ, đó là hành trình mà ký ức trực tiếp gần như chưa thể hình thành. Nhưng những lời kể của người thân về cuộc sơ tán đã trở thành một phần không thể tách rời trong lịch sử cuộc đời bà.

Chiếc thúng mẹ dùng để đưa con đi tránh bom gợi nhắc một thực tế của thời chiến: nhiều gia đình phải sử dụng những vật dụng sinh hoạt hằng ngày để bảo vệ và vận chuyển trẻ sơ sinh trong những cuộc di chuyển đầy khó khăn.

Những người mẹ vừa trải qua sinh nở đã phải tiếp tục cuộc hành trình dài, mang theo con nhỏ, đồ đạc và nỗi lo cho gia đình. Phía trước là nơi sơ tán chưa biết hết những khó khăn. Phía sau là làng quê bị chiến tranh tàn phá.

Với Hồ Thị Dữ, cuộc đời bắt đầu từ lòng địa đạo, rồi tiếp nối bằng những năm tháng xa quê.

Sáu năm đầu đời của bà cũng là sáu năm đất nước tiếp tục chịu đựng những mất mát do chiến tranh gây ra.

Ngày được trở về Vịnh Mốc, cô bé không chỉ trở lại nơi gia đình từng sinh sống mà còn trở về chính vùng đất đã che chở mình trong khoảnh khắc đầu tiên của cuộc đời.

Cuộc gặp đặc biệt với Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Trong cuộc đời Hồ Thị Dữ, năm 1974 ghi dấu một kỷ niệm đặc biệt.

Theo lời kể của bà được Báo Nhân Dân ghi lại, khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm Vịnh Mốc, ông được biết câu chuyện về một cô bé sinh ra trong địa đạo, ngoan ngoãn và chịu nhiều thiệt thòi bởi chiến tranh.

Xúc động trước hoàn cảnh ấy, Thủ tướng bày tỏ mong muốn nhận cô bé làm con nuôi, như một cách chia sẻ tình thương với đứa trẻ từng trải qua những năm tháng chiến tranh ngay từ khi mới chào đời.

Trong cuộc gặp, ông còn đề nghị đổi tên Hồ Thị Dữ thành Hồ Thị Chiến, gửi gắm ý nghĩa chiến thắng những thử thách, gian khó của cuộc sống.

Tên gọi ấy mang một thông điệp sâu sắc. Đứa bé ra đời giữa bom đạn được kỳ vọng sẽ lớn lên mạnh mẽ, vượt qua thiếu thốn, học tập và góp sức xây dựng quê hương.

Một số hình ảnh về Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Ảnh 3. Thủ tướng Phạm Văn Đồng – người có cuộc gặp và bày tỏ sự quan tâm đặc biệt tới Hồ Thị Dữ trong chuyến thăm Vịnh Mốc năm 1974. Ảnh tư liệu nhân vật, không phải ảnh cuộc gặp.

Theo hồi ức của bà Dữ, Thủ tướng căn dặn gia đình cố gắng cho bà học hết trung học phổ thông, sau đó sẽ tạo điều kiện để bà tiếp tục học tập tại Hà Nội và trở về xây dựng quê hương.

Bà cũng kể rằng mình cùng mẹ từng được theo đoàn công tác lên huyện Vĩnh Linh. Sau chuyến thăm, thư ký của Thủ tướng vẫn liên hệ hỏi thăm việc học tập của bà.

Tuy nhiên, hoàn cảnh gia đình khó khăn khiến con đường học vấn của Hồ Thị Dữ không thể kéo dài như mong muốn. Bà học hết cấp hai rồi ở nhà lao động, phụ giúp gia đình.

Ước vọng học tập còn dang dở ấy phản ánh một thực tế của thế hệ lớn lên từ chiến tranh: hòa bình mở ra những cơ hội mới, nhưng hậu quả của mất mát và nghèo khó không thể được khắc phục chỉ trong một sớm một chiều.

Dẫu vậy, sự quan tâm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn là một kỷ niệm đáng quý, được bà lưu giữ và kể lại nhiều năm sau.

Từ đứa trẻ địa đạo đến người phụ nữ bình dị

Khi chiến tranh kết thúc, những đứa trẻ từng ra đời dưới lòng đất dần trưởng thành.

Không phải tất cả đều trở thành những nhân vật nổi tiếng. Phần lớn trở về với đời sống lao động bình thường, tiếp nối công việc của cha mẹ và xây dựng gia đình trên quê hương.

Hồ Thị Dữ cũng vậy.

Tư liệu của Báo ảnh Việt Nam năm 2005 cho biết bà đã lập gia đình, có hai người con và gắn bó với công việc làm ruộng, trồng hồ tiêu. Những ghi nhận báo chí sau này tiếp tục khắc họa bà trong cuộc sống lao động bình dị ở Vịnh Mốc.

Đó là sự chuyển tiếp đáng suy ngẫm: từ một đứa trẻ được sinh ra giữa chiến tranh, được người mẹ đưa đi sơ tán trong chiếc thúng, bà trở thành người mẹ chăm lo cho gia đình mình trong hòa bình.

86 căn hộ đặc biệt trong lòng đất, nơi chào đời của 17 trẻ | Báo Dân trí

Ảnh 4. Bà Hồ Thị Hường (áo xanh) và bà Hồ Thị Dữ trong một lần trở lại địa đạo Vịnh Mốc. Ảnh: Đức Tài/Báo Dân trí, 2025.

Gần sáu thập niên trôi qua, bà vẫn trở về nơi mình sinh ra. Những đường hầm cũ, vách đất đỏ và các ngách nhỏ từng dành cho người dân trú ngụ nay đã trở thành một phần của khu di tích lịch sử.

Mỗi lần trở lại, điều bà tìm kiếm không chỉ là dấu tích chiến tranh. Đó còn là không gian gắn với ký ức về người mẹ đã vượt qua biết bao thiếu thốn để bảo vệ con.

Trong những câu chuyện bà kể, hình ảnh người mẹ luôn giữ vị trí đặc biệt: người phụ nữ chịu đựng cảnh ẩm thấp, đói rét, sinh con dưới lòng đất rồi tiếp tục đưa con đi sơ tán.

Chính những người mẹ bình dị ấy đã góp phần làm nên sức sống bền bỉ của Vĩnh Linh.

Di sản của một tiếng khóc chào đời

Ngày nay, địa đạo Vịnh Mốc là một di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, thuộc hệ thống làng hầm Vĩnh Linh được xếp hạng năm 2014.

Những con đường hầm năm xưa vẫn kể câu chuyện về trí tuệ, sự sáng tạo và ý chí kiên cường của quân dân Quảng Trị. Nhưng có lẽ, một trong những giá trị xúc động nhất của di tích không chỉ nằm ở khả năng chống chịu bom đạn hay quy mô công trình.

Đó là việc nơi đây đã bảo vệ sự sống.

Mười bảy đứa trẻ chào đời giữa chiến tranh là mười bảy minh chứng cho khát vọng tồn tại và niềm tin vào tương lai của con người. Mỗi cuộc đời có hành trình riêng, nhưng đều bắt đầu bằng sự hy sinh và tình thương của những người mẹ nơi tuyến lửa.

Câu chuyện Hồ Thị Dữ còn giúp chúng ta nhận ra rằng lịch sử không chỉ được tạo nên bởi những trận đánh hay chiến công trên chiến trường. Lịch sử còn hiện diện trong cuộc vượt cạn gian nan, chiếc thúng đưa con đi sơ tán, những bàn tay gìn giữ sự sống và những năm tháng lao động lặng thầm sau chiến tranh.

Nơi dưới lòng đất Việt Nam được mệnh danh “huyền thoại trong lòng đất lửa” với chiều dài đường hầm 1.060m, là chỗ trú ngụ khỏi đạn bom cho hơn 600 người trong 2.000 ngày đêm

Ảnh 5. Lối đi trong địa đạo Vịnh Mốc – nơi lưu giữ ký ức về những gia đình từng sống và nuôi con giữa chiến tranh. Ảnh minh họa di tích.

Địa đạo Vịnh Mốc hôm nay đã trở thành nơi các thế hệ tìm về để hiểu thêm giá trị của hòa bình. Những căn hầm từng chật chội, tối tăm giờ đón bước chân của du khách. Trên mặt đất, những làng quê đã hồi sinh, nhịp sống tiếp tục bên bờ biển Quảng Trị.

Và giữa những câu chuyện còn được truyền lại, cuộc đời Hồ Thị Dữ mang một ý nghĩa riêng.

Bà không lựa chọn nơi mình sinh ra. Nhưng từ hoàn cảnh đặc biệt ấy, cuộc đời bà đã trở thành một phần ký ức của vùng đất Vĩnh Linh.

Tiếng khóc đầu tiên của cô bé Hồ Thị Dữ năm nào không thể át tiếng bom đạn trên mặt đất. Song tiếng khóc ấy đã khẳng định một điều bền bỉ hơn mọi sự tàn phá: ngay trong những thời khắc khốc liệt nhất, con người vẫn quyết tâm gìn giữ sự sống, nuôi dưỡng tình yêu thương và hướng về ngày mai hòa bình.

Đó cũng là thông điệp còn mãi từ lòng địa đạo Vịnh Mốc – nơi đất mẹ từng dang tay che chở những cuộc đời vừa mới bắt đầu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn