Hồ Trọng Dính
Ông Hồ Trọng Đính, tự là Từ Tân, sinh năm 1813, người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, thuộc dòng dõi Hồ Tông Thốc, đỗ cử nhân năm Đinh Mùi (1847). Ông là con đầu của Tú tài Hồ Trọng Cấn.
Đầu năm 1848, ông được bố làm Kinh lịch Ninh Bình tạm thay làm Tri huyện Kim Sơn, được xét cử lên chức Tri phủ Kiến Tường (tỉnh Định Tường).
Kiên Tường gồm hai huyện là Kiên Đăng và Kiền Phong, phủ lỵ đặt tại thôn Mỹ Trà. Là phủ mới lập trên vùng đất mới được khai phá, dân cư ít, nhân tài thưa thớt, việc học bị thả nổi, thấy đồ Nho tuỳ ý dạy học, sồng bằng sự háo tâm của đồng bào. Cơ quan phủ học và huyện học cũng tại thôn Mỹ Trà, là văn phòng của các quan giáo thọ, huân đạo để nhân đơn từ của thí sinh. Ngay sau khi trấn nhậm, Tri phủ Hỗ Trọng Đình đã cùng giáo thọ Nguyễn Thục Trinh để xưởng lập Hội Tư vân, cử người giữ chức hội trường, câu đương, hô hào xây dựng Văn miều, phố biên tri thức Nho học, đào tạo nhân tài. Đền cuối năm Định Tỵ (1857) công cuộc xây dựng Vân thánh miều Cao Lãnh hoàn tật (nay thuộc phường 3, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).
Hầu hết những người có học vị và vân tài ở địa phương như: Cử nhân Vị, Tú tài Qui, Tú tài Điều, Nhiêu Chân. Nhiêu Bá, Nhiêu Chương... đều tham gia Hội Tư vân. Nhờ vậy, trong khoa thì hương năm Mậu Ngọ (1858) tại trường thi Gia Định, thí sinh ở địa phương có hai người đổ Cử nhân là Nguyễn Văn Sĩ, người thôn Nhơn Quỷ, Vĩnh An. An Giang và Nguyễn Doăn Nguyên (Giảng Tiên), người Mỹ Trà, Kiên Phong, Định Tường và hai người đỗ Tú tài.
Năm 1862, triều đình nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường) cho thực dân Pháp theo Hoà ước Nhâm Tuất (5/6/1962), ông được điều về làm Tri phủ Tân Thành, tỉnh An Giang (trụ sở đóng tại Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Năm 1967. Thực dân Pháp chiêm luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên), ông được triệu hồi về kinh, thăng Giám sát Ngự sử, Lang trung, rồi được lệnh ra Bắc coi việc đắp để cứu lụt. Hoàn thành nhiệm vụ, ông được thăng Quang lộc tự khanh, sung làm Tân lý quân vụ, lo việc đàn áp các cuộc nổi dậy. Gập lúc bọn giặc lưu động ở biên giới phía Bắc là Hoàng Anh đang tụ họp. Hồ Trọng Đính được đôi sung Lạng Bình Tân lý quân vụ, hộ dẫn tưởng nhà Thanh đi đánh lui được. Bây giờ, Đô thông nhà Thanh là Lưu Tùng Lĩnh, người Chiết Giang, tặng ông hai câu thơ:
Quái đắc tự vẫn Nam quốc thịnh Phong lưu Nho tương Vũ Lâm chỉ.
1. Lạng Bình: Lạng Sơn và Cao Bằng ngày nay
Nghĩa là:
Văn vật nước Nam sao thịnh lạ, Tướng Nho phong lưu chỉ (họ) Vũ Lâm,
Về sau, ông lần lượt trải qua các chức vụ: Bồ chánh, Hộ lý Tuấn phủ Quảng Yên (1871). Tham trì bộ Lại kiêm Đô sát viện (1878), Tham trị bộ Hình, bộ Hộ, bộ Công, rồi thăng thự Thượng thư bộ Công, sau đó cáo bệnh về hưu, mắt tại quê nhà, thọ 65 tuổi.
Ông là người có công gây dựng nên học vân, mờ mang việc học và đào tạo nhân tài ở Cao Lành. Vì chiến sự, Văn thánh miều Cao Lãnh bị hoang phế. Năm Mậu Dần (1878) được xây dựng lại, quy mô hơn, ở địa điểm khác. Năm 1965 được xây dựng lại, nay nằm trong khuôn viên Công viên Văn Miều (thuộc phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).



