HỒ TÙNG MẬU – BẬC TIỀN BỐI KHIẾT TRUNG, TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Trong dòng chảy vinh quang của lịch sử cách mạng Việt Nam, thế hệ những chiến sĩ cộng sản đầu tiên luôn chiếm một vị trí trang trọng và thiêng liêng nhất. Họ là những người đã khai phá con đường từ trong đêm tối nô lệ hướng về ánh sáng tự do, sẵn sàng hiến dâng cả máu xương và tuổi trẻ cho đại nghĩa của dân tộc. Giữa thế hệ vàng mười ấy, đồng chí Hồ Tùng Mậu nổi lên như một biểu tượng của lòng kiên trung bất khuất, một nhà lãnh đạo tiền bối xuất sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam, và là người học trò, người cộng sự vô cùng thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Suốt ba mươi mốt năm hoạt động cách mạng liên tục, cuộc đời ông là một bản anh hùng ca bất tận về tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu kiên cường và phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, mẫu mực.

Đồng chí Hồ Tùng Mậu tên khai sinh là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1896 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đây là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra biết bao thế hệ sĩ phu yêu nước và những nhà khoa bảng lẫy lừng. Sống trong một gia đình có truyền thống gia thế danh gia vọng tộc và giàu tinh thần yêu nước, ý chí phục quốc đã thấm sâu vào máu thịt của ông từ thuở thiếu thời. Ông nội của ông là Phó bảng Hồ Bá Ôn, giữ chức Án sát tỉnh Nam Định, người đã anh dũng hy sinh khi cùng quan quân triều đình kiên quyết bảo vệ thành Nam Định trước sự tấn công của thực dân Pháp vào năm 1883. Tiếp nối ngọn lửa anh hùng ấy, thân phụ của ông là cử nhân Hồ Bá Kiện, một chiến sĩ kiên cường trong phong trào Văn thân. Ông Hồ Bá Kiện bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà tù Lao Bảo và bị bắn chết khi đang dẫn đầu cuộc nổi dậy phá ngục của tù nhân. Chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, lại mang trong mình mối thù nhà nợ nước sâu nặng, người thanh niên Hồ Bá Cự đã sớm nung nấu quyết tâm dấn thân vào con đường cứu nước, cứu dân.
Bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Tùng Mậu bắt đầu vào năm 1920, khi ông quyết định xuất dương sang Trung Quốc để tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc. Tại đây, ông đổi tên thành Hồ Tùng Mậu để thể hiện chí hướng mới của mình. Với tư duy nhạy bén và nhiệt huyết của tuổi trẻ, ông nhanh chóng tiếp cận với các phong trào yêu nước của người Việt tại nước ngoài. Vào năm 1923, Hồ Tùng Mậu cùng với một số đồng chí đồng chí chí hướng như Lê Hồng Sơn và những thanh niên yêu nước khác đã đồng lòng thành lập tổ chức Tâm Tâm Xã tại Quảng Châu. Đây là một tổ chức yêu nước tiến bộ, tập hợp những thanh niên giàu nhiệt huyết nhằm mưu cầu độc lập cho tổ quốc thông qua các hoạt động cấp tiến. Tổ chức này đã tạo tiếng vang lớn, thu hút sự chú ý của nhiều tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, đồng thời chuẩn bị mảnh đất màu mỡ cho sự tiếp thu các tư tưởng cách mạng tiên tiến sau này.
Mùa thu năm 1924, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu, Trung Quốc. Sự kiện này đã thay đổi hoàn toàn cục diện phong trào cách mạng Việt Nam và mở ra một chương mới trong cuộc đời của Hồ Tùng Mậu. Nguyễn Ái Quốc đã chọn Hồ Tùng Mậu là một trong 5 thành viên đầu tiên làm hạt nhân để xúc tiến mở rộng tổ chức cách mạng của người Việt Nam ở Quảng Châu sau này. Từ đó, Hồ Tùng Mậu đã kiên định con đường cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Quá trình từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin của Hồ Tùng Mậu là con đường của sự phát triển biện chứng và tất yếu.
Cuối năm 1924, khi Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô trở về Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu là một trong những thanh niên yêu nước đầu tiên được tiếp xúc, giác ngộ theo tư tưởng cách mạng vô sản. Đồng chí tham gia Cộng sản đoàn - tổ chức hạt nhân do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp xây dựng - và trở thành một trong những cán bộ nòng cốt của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên thành lập tháng 6/1925.
Trong quá trình hoạt động tại Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu là cộng sự gần gũi, trợ thủ đắc lực của Nguyễn Ái Quốc trong nhiều công việc quan trọng như tham gia chuẩn bị điều lệ Hội, tổ chức các lớp huấn luyện chính trị, xây dựng cơ sở liên lạc, đưa thanh niên trong nước sang đào tạo và phát triển phong trào cách mạng. Đồng chí trực tiếp quản lý, hướng dẫn học viên, tổ chức sinh hoạt và xây dựng mạng lưới liên lạc giữa tổ chức cách mạng ở hải ngoại với trong nước, góp phần quan trọng vào quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí còn tham gia chuẩn bị tài liệu, phương tiện cho việc xuất bản báo Thanh niên, phụ trách công tác hậu cần, liên lạc và trực tiếp tổ chức các lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Khi phong trào cộng sản cuối năm 1929 xuất hiện tình trạng phân tán với sự ra đời liên tiếp của ba tổ chức cộng sản riêng rẽ trong khoảng 6 tháng (6/1929–1/1930), Hồ Tùng Mậu sớm nhận thấy tác hại của sự phân liệt nên liên tục viết thư kêu gọi hợp nhất, đồng thời cử người sang Xiêm báo cáo tình hình với Nguyễn Ái Quốc. Trên cơ sở đó, Nguyễn Ái Quốc trở về Hương Cảng triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tháng 02/1930 để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Tùng Mậu cùng Lê Hồng Sơn tham dự Hội nghị với tư cách cán bộ lãnh đạo ở hải ngoại. Sau Hội nghị thành lập Đảng, đồng chí tiếp tục được phân công hoạt động tại Hàng Châu, Nam Kinh, Thượng Hải nhằm xây dựng các cơ sở liên lạc và phục vụ hoạt động của Đảng.
Một trang sử đặc biệt cảm động và thể hiện lòng trung thành tuyệt đối của Hồ Tùng Mậu chính là sự kiện cứu lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Kông vào năm 1931. Khi Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền thực dân Anh bắt giam trái phép và có nguy cơ bị giao dịch cho chính quyền Pháp xử tử, Hồ Tùng Mậu đã không quản ngại nguy hiểm, chủ động liên lạc với luật sư Luật sư Loseby và các tổ chức quốc tế để tìm cách cứu giúp. Nhờ sự mưu trí, dũng cảm và các mối quan hệ rộng rãi của ông, cuộc giải cứu đã thành công tốt đẹp, bảo vệ an toàn cho vị lãnh tụ tối cao của cách mạng Việt Nam. Hành động này không chỉ thể hiện tình đồng chí cao cả mà còn là một đóng góp mang tính quyết định đối với vận mệnh của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Con đường cách mạng của đồng chí Hồ Tùng Mậu không chỉ có những vinh quang mà còn đầy rẫy chông gai, thử thách với những chuỗi ngày dài trong lao tù thực dân. Trong suốt cuộc đời mình, ông đã bị các thế lực thù địch bắt giam tổng cộng năm lần, chịu đày ải hơn mười bốn năm qua nhiều nhà tù khắc nghiệt bậc nhất của chế độ thực dân như Hỏa Lò, Kon Tum, Buôn Ma Thuột, và phải nhận tới hai án tử hình từ tòa án thực dân Pháp. Tuy nhiên, mọi cực hình tra tấn dã man và sự giam cầm tù túng đều bất lực trước ý chí sắt đá của người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Biến nhà tù thành trường học cách mạng, Hồ Tùng Mậu không chỉ giữ vững khí tiết độc lập mà còn tích cực tổ chức cho các tù chính trị học tập lý luận, rèn luyện bản lĩnh. Ngay cả trong những hoàn cảnh tăm tối nhất, ông vẫn lạc quan sáng tác thơ văn để động viên đồng chí, tiêu biểu là bài thơ Tin tưởng, thể hiện niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp, đồng chí Hồ Tùng Mậu cùng các đồng chí của mình đã tổ chức vượt ngục thành công vào tháng 3 năm 1945 để trở về với phong trào cách mạng. Ông lập tức lao vào công tác chuẩn bị và lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại miền Trung. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước. Trong giai đoạn đầy khó khăn của chính quyền cách mạng non trẻ, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã được Đảng và Chính phủ giao phó nhiều trọng trách nặng nề. Ông lần lượt giữ các chức vụ như Chính ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu IV. Trên cương vị này, ông đã khéo léo chèo lái, xây dựng Liên khu IV trở thành một hậu phương vững chắc, cung cấp sức người sức của cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.
Nhận thấy phẩm chất chính trực, công tâm và uy tín tuyệt đối của đồng chí Hồ Tùng Mậu, vào năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh bổ nhiệm ông giữ chức vụ Tổng Thanh tra Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai vào tháng 2 năm 1951, ông tiếp tục được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được cử làm Trưởng ban Ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Trong những năm tháng đầu tiên xây dựng ngành Thanh tra và Kiểm tra Đảng, ông đã đặt những viên gạch nền móng vô cùng vững chắc cho công tác giám sát quyền lực, chống tham nhũng và tiêu cực trong bộ máy nhà nước. Ông nổi tiếng với sự nghiêm minh, không nể nang né tránh, luôn đặt lợi ích của nhân dân và uy tín của Đảng lên trên hết. Những vụ án lớn, điển hình như vụ án tham ô, trục lợi của đại tá Trần Dụ Châu, đã được ông chỉ đạo điều tra một cách công tâm, rõ ràng, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ, củng cố niềm tin yêu của quần chúng nhân dân đối với chính quyền cách mạng.
Khi sự nghiệp cách mạng đang vào giai đoạn chín muồi và đất nước rất cần những nhà lãnh đạo tài năng, đức độ như ông, thì một tổn thất lớn đã ập đến. Ngày 23 tháng 7 năm 1951, trên đường đi công tác kiểm tra tại miền Trung, khi đi qua địa phận thị trấn Còng, huyện Tĩnh Gia, nay thuộc thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã bị máy bay của thực dân Pháp phát hiện và bắn phá. Ông đã anh dũng hy sinh ngay trên mảnh đất quê hương miền Trung ruột thịt, hưởng thọ năm mươi lăm tuổi. Sự hy sinh đột ngột của ông là một mất mát vô cùng to lớn, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng bào, đồng chí cả nước.
Nhận được tin người em, người đồng đội chí cốt hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vô cùng bàng hoàng và đau xót. Đích thân Người đã viết bài điếu văn chứa chan nước mắt để vĩnh biệt một người đồng chí trung kiên. Trong bài điếu văn, Bác Hồ đã viết những lời tâm huyết, khẳng định chú Tùng Mậu là một người yêu nước thiết tha, một chiến sĩ cộng sản mẫu mực, suốt đời tận tụy vì Đảng, vì dân, không hề mưu cầu danh lợi cá nhân. Nỗi đau lòng của vị lãnh tụ kính yêu chính là minh chứng rõ ràng nhất cho tầm vóc, nhân cách và những cống hiến không biết mệt mỏi của đồng chí Hồ Tùng Mậu đối với sự nghiệp chung của toàn dân tộc.

Bác Hồ (ngồi đầu tiên, từ phải sang) chụp ảnh cùng một số Ủy viên Trung ương Đảng khóa II (năm 1951) tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Đồng chí Hồ Tùng Mậu đứng thứ tư, từ phải sang. Nguồn: Ảnh tư liệu
Để ghi nhận và tôn vinh những cống hiến vĩ đại của đồng chí Hồ Tùng Mậu đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã trân trọng truy tặng ông những phần thưởng cao quý nhất, bao gồm Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Sao Vàng vào năm 2008. Tên tuổi của ông giờ đây không chỉ được lưu danh trong các trang sử vàng của dân tộc mà còn hiện diện sinh động trong đời sống hằng ngày của nhân dân. Nhiều tuyến đường đại lộ khang trang, nhiều ngôi trường học học chuẩn quốc gia và các công trình công cộng tại thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Nghệ An cùng nhiều địa phương khác trên cả nước đã được vinh dự mang tên ông.
Nhìn lại toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Hồ Tùng Mậu, chúng ta thấy sáng ngời lên tấm gương của một người cộng sản chân chính. Từ một thanh niên yêu nước mang nợ nước thù nhà, ông đã trưởng thành bản lĩnh qua ngọn lửa của lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn đấu tranh cách mạng phong phú. Dù trong hoàn cảnh hoạt động bí mật ở nước ngoài, giữ vai trò Thư ký hội nghị lập Đảng, chịu đựng mười bốn năm tù đày tra tấn hay khi đã đứng trên đỉnh cao của quyền lực với cương vị Tổng Thanh tra Chính phủ, ông vẫn giữ nguyên vẹn một tấm lòng khiết trung, giản dị và tận hiến. Cuộc đời ông là minh chứng sống động cho câu nói của ông cha ta về tinh thần giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Hồ Tùng Mậu mãi mãi là một bài học sâu sắc về lòng yêu nước, lý tưởng sống cao đẹp và tinh thần tự học, tự rèn luyện. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, tinh thần thanh tra, kiểm tra thẳng thắn, công tâm và tấm lòng vì nước vì dân của ông vẫn nguyên vẹn giá trị thời sự. Tấm gương của đồng chí Hồ Tùng Mậu sẽ luôn là ngọn đuốc soi đường, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam không ngừng học tập, lao động và cống hiến để xứng đáng với sự hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại của các bậc tiền bối đi trước.



