Bài viết

HỒ TÙNG MẬU – NGƯỜI ĐỒNG CHÍ ĐƯỢC BÁC HỒ XEM “THÂN THIẾT HƠN ANH EM RUỘT”.

An Giang07/07/2026Đoàn Phường Long Phú (Đoàn Phường Long Phú)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong thế hệ những nhà cách mạng tiền bối của Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hồ Tùng Mậu là một gương mặt đặc biệt. Ông không chỉ là người tham gia từ rất sớm vào phong trào yêu nước ở nước ngoài, mà còn là một trong những người cộng sự thân thiết của Nguyễn Ái Quốc trong những năm tháng hoạt động tại Quảng Châu, Hương Cảng. Cuộc đời 55 năm của ông trải qua nhiều nhà tù, nhiều lần bị kết án tử hình, nhưng chưa bao giờ khuất phục.

Hồ Tùng Mậu tên khai sinh là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15/6/1896 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Quỳnh Đôi là vùng đất nổi tiếng hiếu học, giàu truyền thống yêu nước, từng sản sinh nhiều nhân vật có ảnh hưởng trong lịch sử. Gia đình ông cũng là một gia đình có nền nếp, có truyền thống chống ngoại xâm.

Cha ông là cụ Hồ Bá Kiện, con trai đầu của Án sát Hồ Bá Ôn. Cụ Hồ Bá Kiện là một chí sĩ yêu nước, từng tham gia phong trào Văn Thân chống Pháp. Năm 1907, khi đang hoạt động ở Sơn Tây, cụ bị thực dân Pháp bắt, sau đó bị đày đi Lao Bảo và bị sát hại. Biến cố ấy để lại dấu ấn rất lớn trong tuổi trẻ của Hồ Bá Cự. Từ nỗi đau gia đình, ông sớm hiểu rằng thân phận của một người dân mất nước không chỉ là nghèo khổ, mà còn là sự đè nén, nhục nhã và mất quyền làm chủ trên chính quê hương mình.

Khoảng năm 20 tuổi, Hồ Bá Cự rời quê đến Thanh Chương, Anh Sơn dạy học. Nghề dạy học lúc ấy không chỉ để mưu sinh. Với nhiều thanh niên yêu nước, đó còn là cách gần dân, truyền chữ, truyền tinh thần thức tỉnh và tìm kiếm những người cùng chí hướng. Từ đây, con đường cách mạng của ông bắt đầu rõ nét hơn.

Năm 1919, ông lấy bí danh Hồ Tùng Mậu. Cái tên này về sau trở thành tên gọi chính thức gắn với toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của ông. Cùng với Lê Hồng Sơn, Nguyễn Thị Tích, Ngô Chính Học, Đặng Quỳnh Anh, ông bí mật sang Lào rồi đến Xiêm, tức Thái Lan ngày nay. Sau thời gian ở Trại Cày tại Bản Đông, ông và Lê Hồng Sơn được cụ Đặng Thúc Hứa giúp đỡ vượt biên sang Quảng Châu, Trung Quốc.

Tại Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu thuê nhà của chí sĩ Hồ Học Lãm để học tiếng Trung, tiếng Anh, rồi theo học tại Trường trung học An Sinh ở Hàng Châu và Trường Điện tín của Công ty xe lửa Hán – Việt tại Quảng Châu. Những năm tháng này giúp ông mở rộng tầm nhìn, tiếp xúc với nhiều tư tưởng mới và dần chuyển từ lòng yêu nước truyền thống sang con đường cách mạng có tổ chức.

Năm 1923, Hồ Tùng Mậu cùng Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn và một số thanh niên yêu nước thành lập nhóm Tâm Tâm xã. Đây là tổ chức của những thanh niên Việt Nam có tư tưởng phục quốc, mong muốn dùng hành động cách mạng để giành lại độc lập cho dân tộc.

Tháng 3/1924, ông được cụ Phan Bội Châu giao nhiệm vụ mang tài liệu về nước tuyên truyền, vận động thanh niên ra nước ngoài học tập, huấn luyện rồi trở về cứu nước. Nhưng đến tháng 7 cùng năm, sau khi Phạm Hồng Thái thực hiện vụ mưu sát Toàn quyền Đông Dương Martial Henri Merlin tại Sa Diện, Hồ Tùng Mậu phải quay trở lại Quảng Châu.

Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu. Cuộc gặp giữa Nguyễn Ái Quốc và những thanh niên yêu nước trong Tâm Tâm xã đã mở ra một bước ngoặt lớn. Từ lòng yêu nước sôi nổi nhưng còn nhiều bồng bột, họ được Nguyễn Ái Quốc định hướng theo con đường cách mạng vô sản, có tổ chức, có lý luận và có mục tiêu rõ ràng.

Năm 1925, Hồ Tùng Mậu được Nguyễn Ái Quốc kết nạp vào Cộng sản Đoàn. Tháng 6 cùng năm, trên cơ sở Cộng sản Đoàn, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tại ngôi nhà số 13 đường Văn Minh ở Quảng Châu, các lớp huấn luyện chính trị được mở để đào tạo thanh niên trong nước sang. Hồ Tùng Mậu là một trong những người phụ giảng của Nguyễn Ái Quốc, góp phần đào tạo lớp cán bộ cách mạng đầu tiên cho Việt Nam.

Cuối năm 1925, ông về Hải Phòng lập Huệ quần thư quán. Bề ngoài, đây là một hiệu sách, nhưng thực chất là cơ sở liên lạc giữa Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở nước ngoài với các cơ sở trong nước. Từ nơi này, nhiều thanh niên yêu nước được lựa chọn, tổ chức đưa sang Quảng Châu học tập và huấn luyện.

Tháng 3/1926, theo yêu cầu hoạt động, Nguyễn Ái Quốc giới thiệu Hồ Tùng Mậu vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông làm việc tại Chiêu đãi sở ở Quảng Đông, giữ vai trò liên lạc với những người cộng sản nhiều nước đang hoạt động tại đây.

Từ năm 1927 đến năm 1929, Hồ Tùng Mậu ba lần bị bắt giam. Ông phải chịu nhiều c.ự.c hình trong nhà t.ù đế quốc, nhưng vẫn giữ vững khí tiết. Đến năm 1929, ông được trả tự do và tiếp tục hoạt động.

Cuối năm 1929, ông đến Hương Cảng và trở thành thành viên Chi bộ Hải ngoại của An Nam Cộng sản Đảng. Cùng thời gian đó, thực dân Pháp tại Nghệ An xét xử vắng mặt ông, kết án tử hình với tội danh xúi giục đưa người ra nước ngoài, vận động lập đảng và mưu đồ làm phản.

Đầu năm 1930, Hồ Tùng Mậu cùng Lê Hồng Sơn tích cực chuẩn bị cho Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản do Nguyễn Ái Quốc triệu tập tại Cửu Long, Hương Cảng. Ngày 03/02/1930, hội nghị này đi đến việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam.

Năm 1931, khi Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt tại Hương Cảng, Hồ Tùng Mậu cùng Trương Vân Lĩnh đã tìm cách liên lạc với Hội Quốc tế Cứu tế Đỏ để nhờ can thiệp. Nỗ lực ấy góp phần quan trọng trong việc bảo vệ Nguyễn Ái Quốc trước âm mưu giao nộp Người cho thực dân Pháp.

Không lâu sau, từ ngày 26 đến ngày 30/6/1931, Hồ Tùng Mậu bị thực dân Anh bắt giam vì hoạt động chống nhà cầm quyền. Không đủ chứng cứ buộc tội, chúng trục xuất ông khỏi Hương Cảng và mật báo cho mật thám Pháp. Khi đến Thượng Hải, ông bị mật thám Pháp bắt, đưa về Việt Nam xét xử.

Ngày 06/12/1931, ông bị thực dân Pháp tuyên án t.ử hình tại phiên tòa ở Nghệ An. Sau đó, án tử hình được giảm xuống chung thân khổ sai. Từ đây, Hồ Tùng Mậu trải qua chuỗi ngày dài trong các nhà lao Vinh, Lao Bảo, Kon Tum, Buôn Ma Thuột và nhiều nơi giam giữ khắc nghiệt khác.

Trong tù, ông không chỉ chịu đựng tra tấn mà còn biến nhà lao thành trường học cách mạng. Tại nhà giam Kon Tum, ông làm thơ, viết văn, tham gia sáng lập Hội tao đàn ngục thất. Thơ văn của ông trong tù không phải để than thân, mà để giữ lửa tinh thần, động viên đồng chí và khẳng định niềm tin vào ngày đất nước độc lập.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp 09/3/1945, Hồ Tùng Mậu cùng một số t.ù chính trị thoát khỏi nhà lao Trà Khê ở Phú Yên, trở về quê nhà Quỳnh Đôi tiếp tục hoạt động. Khi biết tin, Chính phủ Trần Trọng Kim mời ông ra làm cố vấn chính trị, nhưng ông thẳng thừng từ chối.

Trở lại Nghệ An, ông tích cực vận động nhân dân cứu đói, tham gia Hội Cứu quốc, ủng hộ cách mạng và chuẩn bị khởi nghĩa. Ông còn giao cho con trai là Hồ Mỹ Xuyên tham gia Ủy ban Khởi nghĩa huyện Quỳnh Lưu. Một phần nhờ sự vận động ấy, Quỳnh Lưu trở thành địa phương giành chính quyền sớm nhất ở Nghệ An trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Khi thời cơ Tổng khởi nghĩa đến gần, Hồ Tùng Mậu được điều động tăng cường cho Xứ ủy Trung Kỳ, góp phần chuẩn bị lực lượng chính trị và vũ trang ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ông được Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mời ra Hà Nội nhận nhiệm vụ mới.

Từ tháng 10/1945 đến năm 1947, Hồ Tùng Mậu giữ chức Giám đốc kiêm Chính ủy Trường Quân chính Trung Bộ. Sau đó, ông là Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Trung Bộ và Ủy viên Liên khu ủy Liên khu IV. Năm 1946, trước khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao cho Hồ Tùng Mậu và Lê Thiết Hùng nhiệm vụ lãnh đạo quân sự, chính trị ở địa bàn Chiến khu IV, một khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng.

Ngày 18/12/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 138b-SL thành lập Ban Thanh tra Chính phủ và Sắc lệnh số 138c-SL cử Hồ Tùng Mậu làm Tổng Thanh tra Chính phủ. Đây là dấu mốc quan trọng của ngành thanh tra Việt Nam.

Trên cương vị Tổng Thanh tra Chính phủ, ông có nhiệm vụ xem xét việc thi hành chính sách, chủ trương của Chính phủ, thanh tra cán bộ, viên chức về phương diện liêm khiết, giải quyết khiếu nại của nhân dân và trực tiếp đi kiểm tra nhiều vụ việc cụ thể. Trong hoàn cảnh kháng chiến còn vô cùng gian khổ, công việc thanh tra không chỉ là kiểm tra hành chính, mà còn là giữ kỷ cương, giữ niềm tin của nhân dân đối với chính quyền cách mạng non trẻ.

Năm 1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Hồ Tùng Mậu được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Cùng thời gian này, ông là Hội trưởng đầu tiên của Hội Việt – Hoa hữu nghị, góp phần phát triển quan hệ Việt – Trung trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Pháp đang bước vào thời kỳ quyết liệt.

Chiều ngày 23/7/1951, khi đang trên đường đi công tác qua thị trấn Còng, Thanh Hóa, đoàn cán bộ của Hồ Tùng Mậu bị máy bay Pháp phát hiện và đuổi b.ắ.n. Ông hy sinh khi mới 55 tuổi, giữa lúc đang đảm nhiệm nhiều trọng trách lớn và còn tràn đầy khả năng cống hiến.

Sự ra đi của Hồ Tùng Mậu khiến Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng đau xót. Trong điếu văn, Bác viết rằng giữa Người và Hồ Tùng Mậu không chỉ là tình đồng chí, mà còn thân thiết hơn anh em ruột. Hơn 25 năm, từ những ngày hoạt động ở đất khách quê người, khi bị giam trong lao t.ù đế quốc, đến lúc đấu tranh ở trong nước, hai người đã nhiều lần đồng cam cộng khổ “như tay với chân”.

Bác Hồ cũng khẳng định, mất Hồ Tùng Mậu là đồng bào mất một người lãnh đạo tận tụy, Chính phủ mất một cán bộ lão luyện, Đoàn thể mất một đồng chí trung thành, còn riêng Người mất một người anh em chí thiết. Đó là những lời đánh giá rất sâu nặng, cho thấy vị trí đặc biệt của Hồ Tùng Mậu trong lòng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau khi hy sinh, ông được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Ngày 18/01/2008, Nhà nước truy tặng Hồ Tùng Mậu Huân chương Sao Vàng, phần thưởng cao quý nhất của Việt Nam.

Nhìn lại cuộc đời Hồ Tùng Mậu, người ta thấy một hành trình cách mạng gần như không có ngày bình yên. Ông sống 55 năm, có 31 năm hoạt động cách mạng, hơn 14 năm bị giam cầm trong các nhà tù đế quốc, 5 lần bị bắt và 2 lần bị kết án t.ử hình.

Nhưng dù ở Quảng Châu, Hương Cảng, Hải Phòng, Nghệ An, trong nhà tù Kon Tum hay trên cương vị Tổng Thanh tra Chính phủ, Hồ Tùng Mậu vẫn giữ một phẩm chất nhất quán: kiên trung, tận tụy, không màng danh lợi và luôn đặt vận mệnh dân tộc lên trên bản thân mình.

Ông là một trong những người góp phần đặt nền móng cho phong trào cách mạng Việt Nam ở nước ngoài, tham gia chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ Nguyễn Ái Quốc trong thời khắc hiểm nguy, lãnh đạo kháng chiến ở miền Trung và đặt nền móng cho ngành thanh tra của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cuộc đời ấy khép lại trên một chuyến công tác giữa thời kháng chiến, nhưng tên tuổi Hồ Tùng Mậu vẫn còn ở lại như hình ảnh của một người cộng sản tiền bối, một người đồng chí thủy chung của Chủ tịch Hồ Chí Minh và một người con kiên cường của quê hương xứ Nghệ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn