Bài viết

Hồ Văn Cống – Người Bí thư Tỉnh ủy giữ trọn khí tiết người cộng sản

Phan Thị Cẩm Nhung

TP. Hồ Chí Minh26/08/2026Trường Đại học Hải Dương (Trường Đại học Hải Dương)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong những năm tháng đấu tranh cách mạng đầy gian khổ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Thủ Dầu Một là một trong những địa bàn có phong trào cách mạng phát triển mạnh ở Nam Bộ. Từ những cơ sở cách mạng đầu tiên trong công nhân, nông dân và thợ thủ công, nhiều người con của vùng đất này đã sớm giác ngộ lý tưởng, trở thành những cán bộ kiên trung, góp phần xây dựng cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng. Trong số đó, đồng chí Hồ Văn Cống, còn gọi là Hai Cống (1912–1943), là một trong những cán bộ tiêu biểu của phong trào cách mạng Thủ Dầu Một trước năm 1945.

Hồ Văn Cống sinh năm 1912 trong một gia đình nông dân ở xã Tân Phước Khánh, huyện Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một, nay thuộc khu vực Tân Khánh. Sinh ra trong hoàn cảnh đất nước chịu ách thống trị của thực dân Pháp, ông sớm chứng kiến cuộc sống khó khăn của người lao động. Trong những năm 1920, ông lên Sài Gòn làm ăn, sinh sống và tham gia tổ chức Thanh niên Cao vọng của Nguyễn An Ninh. Khi trở về quê hương Lái Thiêu, ông tiếp tục tham gia cơ sở thanh niên của Tân Việt Đảng do Tô Trọng Mân tổ chức.

Năm 1929 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Văn Cống. Tại Bình Nhâm, ông cùng khoảng mười người, trong đó có Nguyễn Văn Tiết, Đinh Văn Sáng và những người yêu nước khác, thành lập một tổ chức cộng sản bí mật. Từ đây, các hoạt động tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin và vận động quần chúng được đẩy mạnh. Các cơ sở cách mạng từng bước được xây dựng trong công nhân, nông dân và những người lao động ở Bình Nhâm và các vùng lân cận.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào tháng 2 năm 1930, Hồ Văn Cống cùng các đồng chí tích cực vận động nhân dân Bình Nhâm hưởng ứng phong trào đấu tranh của công nhân, đặc biệt là cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền cao su Phú Riềng và công nhân Đề-pô xe lửa Dĩ An. Từ những hoạt động đó, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân và thợ thủ công ở Thủ Dầu Một ngày càng phát triển.

Tháng 8 năm 1930, Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở xã Bình Nhâm được thành lập. Hồ Văn Cống là một trong sáu thành viên đầu tiên của chi bộ, cùng với Trương Văn Phèn, Nguyễn Văn Tiết, Nguyễn Văn Lộng, Nguyễn Văn Nâu và Đinh Văn Sáng. Chi bộ đã tích cực vận động thành lập các tổ chức quần chúng, xây dựng cơ sở trong các lò gốm, lò đường, trại mộc và nhiều nơi có đông người lao động.

Phong trào công nhân, nông dân và thợ thủ công tại Bình Nhâm, An Sơn, An Thạnh ngày càng phát triển. Một trong những dấu mốc nổi bật là cuộc bãi công của công nhân tại 30 cơ sở lò gốm diễn ra từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 2 tháng 10 năm 1935, thu hút hơn một vạn người tham gia. Cuộc đấu tranh đã thể hiện sức mạnh của sự đoàn kết giữa những người lao động, đồng thời cho thấy phong trào cách mạng ở vùng Thủ Dầu Một đã có cơ sở quần chúng tương đối rộng lớn.

Cuối năm 1935, Xứ ủy Nam Kỳ cử Trương Văn Nhâm về Thủ Dầu Một tổ chức Tỉnh ủy. Tháng 2 năm 1936, Ban Chấp hành Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một được thành lập, trong đó Hồ Văn Cống là một trong những cán bộ địa phương tham gia. Khi Trương Văn Nhâm được điều động, Hồ Văn Cống được giao trọng trách Bí thư Tỉnh ủy lâm thời. Đến tháng 1 năm 1937, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một được công nhận chính thức và Hồ Văn Cống giữ chức Bí thư Tỉnh ủy.

Trên cương vị người đứng đầu Đảng bộ tỉnh, Hồ Văn Cống chú trọng xây dựng cơ sở Đảng và phát triển phong trào quần chúng. Ông trực tiếp đến những địa bàn tập trung đông công nhân như Chánh Nghĩa – Phú Cường để xây dựng chi bộ, phát triển tổ chức Hội Ái hữu. Ông cũng tham gia viết cho tờ Tranh đấu, góp phần tuyên truyền, vận động và tập hợp quần chúng.

Không chỉ hoạt động tại các khu vực đô thị và làng nghề, Hồ Văn Cống còn quan tâm xây dựng cơ sở cách mạng trong các đồn điền cao su ở phía Bắc tỉnh. Năm 1939, ông cùng Nguyễn Văn Tiết tổ chức xây dựng nhiều cơ sở tại các đồn điền Thuận Lợi và Quản Lợi. Những cơ sở này trở thành một phần quan trọng trong mạng lưới hoạt động cách mạng ở khu vực miền Đông Nam Bộ.

Năm 1940, tình hình cách mạng chuyển sang một giai đoạn đặc biệt khó khăn. Khi nhận được chủ trương khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ, Ban Khởi nghĩa tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập và Hồ Văn Cống được giao làm Trưởng ban. Ngày 23 tháng 11 năm 1940, nhân dân ở nhiều địa phương trong tỉnh đã nổi dậy hưởng ứng Nam Kỳ khởi nghĩa. Phong trào diễn ra tại Lái Thiêu, Châu Thành, Bến Cát và nhiều làng như Thuận Giao, An Sơn, An Thạnh, Bình Hòa, Bình Nhâm, Tân Thới.

Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cuối cùng không giành được thắng lợi. Trước sự truy bắt gắt gao của chính quyền thực dân, Hồ Văn Cống rút về Dầu Tiếng ẩn náu. Sau Tết Nguyên đán năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án 5 năm tù, sau đó bị đày ra Côn Đảo.

Trong những năm tháng bị giam cầm, Hồ Văn Cống vẫn giữ vững tinh thần của một người chiến sĩ cách mạng. Ông qua đời tại Côn Đảo năm 1943, khi mới 31 tuổi. Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông tuy ngắn ngủi nhưng gắn liền với một giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của phong trào cách mạng ở Thủ Dầu Một.

Điều đáng nhớ ở Hồ Văn Cống không chỉ là những chức vụ ông từng đảm nhiệm, mà còn là quá trình từ một người lao động xuất thân từ gia đình nông dân trở thành một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Thủ Dầu Một. Từ Bình Nhâm, Chánh Nghĩa – Phú Cường đến các đồn điền cao su phía Bắc, ông đã dành những năm tháng tuổi trẻ để xây dựng cơ sở, vận động quần chúng và tổ chức phong trào cách mạng trong điều kiện hết sức khắc nghiệt.

Tên tuổi Hồ Văn Cống ngày nay vẫn được nhắc nhớ tại quê hương. Ông là một trong sáu thành viên đầu tiên của Chi bộ Bình Nhâm được thờ tại khuôn viên Đền Bình Nhâm, một địa chỉ lưu giữ những dấu tích quan trọng của phong trào cách mạng địa phương. Tên ông cũng được đặt cho một con đường, như một cách để thế hệ sau ghi nhớ người cán bộ đã dành cả tuổi trẻ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hồ Văn Cống đã ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng những dấu ấn ông để lại trong lịch sử cách mạng Thủ Dầu Một vẫn còn được nhắc đến. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một phần của lịch sử phong trào cách mạng ở Bình Dương, đồng thời cho thấy sự hy sinh của một thế hệ cán bộ đã góp sức đặt nền móng cho những thắng lợi của cách mạng trong những năm tháng về sau.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn