Hồ Xuân Hương – từ “Bà chúa thơ Nôm” đến Danh nhân văn hóa thế giới
Là nữ nhân duy nhất trong 6 danh nhân Việt Nam được UNESCO vinh danh, Hồ Xuân Hương là bậc nữ sĩ kỳ tài và là hiện tượng đặc sắc của văn học trung đại. Tiếp thu truyền thống khoa bảng quê hương Quỳnh Lưu (Nghệ An), bà dùng ngôn ngữ Nôm sắc sảo cùng nghệ thuật trào phúng, chơi chữ đỉnh cao để phơi bày bất công phong kiến. Thơ bà là tiếng nói mạnh mẽ khẳng định giá trị, đòi quyền tự do, hạnh phúc cho phụ nữ với tư tưởng nhân văn tiến bộ vượt thời đại. Với khoảng 150 bài thơ tiêu biểu như tập Lưu Hương ký, di sản của "Bà Chúa thơ Nôm" đã vươn tầm quốc tế khi được dịch ra nhiều ngôn ngữ. Hơn hai thế kỷ trôi qua, những áng thơ kiệt xuất ấy vẫn là niềm tự hào và nguồn di sản vô giá của văn hóa dân tộc.
Trong số 6 Danh nhân Việt Nam được UNESCO vinh danh gồm: Nguyễn Trãi năm 1980, Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990, Nguyễn Du năm 2015, Chu Văn An năm 2019, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Đình Chiểu năm 2021 thì duy nhất chỉ có Danh nhân Hồ Xuân Hương là nữ. Bà là một trong những danh nhân văn hóa có đóng góp lớn cho văn học Việt Nam, không chỉ bởi tài năng thơ ca xuất sắc mà còn bởi những tư tưởng tiến bộ, mạnh mẽ trong việc đấu tranh cho quyền lợi và tự do của phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Hồ Xuân Hương sinh ra và lớn lên tại Quỳnh Lưu, Nghệ An, trong một gia đình có truyền thống học vấn và dòng họ nổi tiếng khoa bảng. Chính vì vậy mà Hồ Xuân Hương đã tiếp thu được những tinh hoa của ông cha. Giữa bối cảnh xã hội phong kiến đầy những ràng buộc và định kiến, bà đã trở thành người phụ nữ đầu tiên không chỉ dám khẳng định mình trong thế giới văn học mà còn mạnh mẽ phản ánh những nghịch lý, bất công của xã hội qua từng câu chữ, từng vần thơ.
"Nữ sĩ Hồ Xuân Hương để lại hai giá trị, một là phẩm cách của một người phụ nữ trong thời đại của bà. Những phẩm cách đấy, tư tưởng đấy nó lại không chỉ dừng lại thời đại bà, nó không kết thúc, nó không chỉ giá trị trong một thời đại bà sống mà kéo dài cho đến tận bây giờ. Những giá trị sống, những quan điểm sống, những khát vọng sống và sự đấu tranh cho những người phụ nữ, cho nữ quyền của bà vẫn còn tiếp tục đến hôm nay. Hai nữa, nghệ thuật thi ca của bà là một nghệ thuật đặc biệt, trong tất cả những di sản thi ca để lại Hồ Xuân Hương là một sự đặc biệt".
"Hiện nay chúng ta biết là thơ Hồ Xuân Hương đã được dịch sang các thứ tiếng: Anh, Nga, Đức, Bulgari, Trung, Nhật, Hàn… Tính chất đặc sắc ở tất cả các bài thơ nhất là ở thơ Nôm truyền thống làm nên thương hiệu thơ Hồ Xuân Hương. Ở đây có hai phía cạnh: một mặt là sự tiếp nối phát triển đạt đến đỉnh cao của thơ Nôm Đường luật nói chung và một điều nữa là tạo nên ngã rẽ, cái đặc sắc, cái sắc thái Hồ Xuân Hương. Chúng ta nhấn mạnh về những cái giá trị nhân văn, về giá trị tư tưởng và đặc biệt cả phong thái vị nghệ thuật. Vị nghệ thuật ở đây với cái nghĩa là nội dung hướng về nhân văn nhưng mà hình thức nó là chơi chữ".
Hơn hai thế kỷ đã trôi qua, nhưng sự nghiệp văn chương của “bà Chúa thơ Nôm” vẫn là những áng thơ ca kiệt xuất của văn học Việt Nam thời kỳ trung đại, đồng thời là nguồn di sản quý báu của văn hóa dân tộc. Di sản ấy sẽ mãi là niềm tự hào muôn đời với người dân đất Việt, có sức lan tỏa rộng rãi đến với nhiều quốc gia trên thế giới.



