HOA BẤT TỬ - MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ NHƠN
Chín mươi năm qua, trên một dòng chảy của đất Vĩnh Thành – Chợ Lách, mẹ Nguyễn Thị Nhơn (1908 – 1998) hay còn được gọi với cái tên thân thương là Mẹ Hai.
Mẹ Hai xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Vĩnh Thành. Mẹ là chị cả của ba em (hai gái, một trai). Chị Hai thương yêu và nhường nhịn em mình. Mười hai tuổi mẹ Hai phải sớm mồ côi người cha kính yêu. Người con gái mười hai tuổi này phải sớm nặng gánh trên vai chia sẻ trách nhiệm nuôi đàn em thơ. Thời con gái Mẹ chăm làm. Mười tám tuổi Mẹ lập gia đình với ông Nguyễn Văn Hiếu (1903-1962) một thanh niên hiền lành, tốt bụng cùng làng xã Vĩnh Thành.
Mẹ Hai có tất cả chín người con. Mẹ thường dạy cho các con: còn giặc Tây là dân mình còn nhục, còn Việt gian là dân mình còn khổ. Mẹ thường nói: “Nước mất nhà tan”, “nhà mình, làng mình, nước mình gắn chặt với nhau”. Ai chẳng muốn gia đình đoàn tụ, Mẹ nào muốn xa con. Mẹ sẵn sàng đưa ba người con trai yêu quý của Mẹ lần lượt tham gia cách mạng tại làng Vĩnh Thành.
Năm 1947, đất Vĩnh Thành Tây đóng đồn bót như gọng k... anh Nguyễn Hồng Hiển – con trai lớn của Mẹ tham gia cách mạng với công các binh vận. Ở trận đánh đồn Bà Ươm, anh hy sinh trong tư thế hiên ngang cánh bọn Tây với mã tấu và ngọn tầm vông. Lòng Mẹ đau như cắt khi nghe tin con hy sinh. Hai mươi bốn tuổi đời con trai Mẹ sống trọn vẹn cho làng quê, đất nước. Nước mắt Mẹ chảy dài theo lòng yêu thương con vô tận.
Hết đánh Tây đến hồi đánh Mỹ, anh Nguyễn Văn Phú (1931 – 1959) cũng tham gia cách mạng với nhiệm vụ Bí thư xã ủy Vĩnh Thành. Rồi anh cũng hy sinh trong một lần đi công tác. Kiên cường biết bao khi anh tự phá vết thương của mình để khỏi phải nghe các luận điệu tuyên truyền bịp bợm kể cả đòn roi ác nghiệt của kẻ thù. Cùng lúc đó, con rể thứ sáu của Mẹ là anh Nguyễn Văn Ba tự Năm Dậu cũng bị giặc bắt và tù đày lao lung. Bọn tay sau đã bất lực trước khí tiết dũng cảm của con trai Mẹ – một Bí thư gan dạ, anh hùng. Nước mắt Mẹ chảy khôn nguôi. Mẹ Hai chỉ nghe tin con mà không được gặp con lần cuối, không được biết con chôn cất ở đâu. Cũng may thay, người con rể thứ sáu của Mẹ cùng bạn tù đã chôn cất anh mình, nên về sau Mẹ lần mò tìm lại được “khúc ruột của mình”.
Năm 1959, do đau yếu, chồng Mẹ mất để lại cho Mẹ một gánh nặng oằn vai nợ nước thù nhà. Nước mắt nào cho hai con yêu đã anh dũng hy sinh, nước mắt nào cho chồng sớm ra đi khi nghĩa tình chưa vơi, nước mắt nào cho thân phụ nữ góa bụa nuôi con thơ dại, nước mắt nào cho làng xóm quê hương chưa dứt cơn áp bức bóc lột của quân cướp nước. Nén lòng đau, gạt nước mắt sinh ly tử biệt, Mẹ dặn lòng mình phải kiên trì hơn, bất khuất hơn. Kẻ thù ngày càng bạo tàn thì ta càng phải khôn hơn, tinh vi hơn.
Người con trai thứ năm của Mẹ là Nguyễn Văn Năm cũng đâu kém hai anh mình. Ngày 30/8/1974, anh đã hy sinh anh dũng trong một lần đi công tác. Chiến tranh thật tàn khốc. Con ơi ! Nếu không có lý tưởng độc lập, tự do thì niềm đau thương này đã làm Mẹ ngã quỵ mất rồi.
Ngày 30/4/1975, ngày hòa bình độc lập, Mẹ mừng rỡ chảy hai hàng nước mắt. Sáu mươi bảy tuổi Mẹ mới thấy trời của ta, đất của ta. Trong nước mắt nhạt nhòa, Mẹ mơ hồ thấy ba con trai mình trở về ôm chầm lấy Mẹ gọi lên: “Mẹ ơi, con đã về”. Nhưng sinh ly thì còn gặp lại mà tử biệt thì ngàn trùng xa cách. Vốn dĩ cả đời chịu thương chịu khó, Mẹ vẫn cặm cụi với công việc đời thường quen thuộc: làm cỏ, tưới rau, chăm con gà, bắt con cá con tép...trong sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương.
Đến năm 1995, Mẹ Hai được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà Mẹ Việt Nam anh hùng”. Hôm chuẩn bị đón nhận danh hiệu, Mẹ thao thức cả đêm không ngủ được. Mẹ sung sướng dâng trào nước mắt. Mẹ bước đi trong niềm sung sướng tự hào. Thấy Mẹ lụm cụm, ông Bí thư Huyện ủy đều Mẹ lên xe. Mẹ Hai về nhà cứ nhắc đi nhắc lại nghĩa cử ấy. Mẹ thầm mong: “con lãnh đạo huyện nhà cho giỏi”.
Biết mình sắp về cõi vĩnh hằng, Mẹ thường ôn lại chuyện xưa đánh Tây, đánh Mỹ. Mẹ ao ước ngày Mẹ ra đi vĩnh viễn có đội thiếu nhi đánh trống liễn đưa. Tuổi già sức yếu tuy được phụng dưỡng chăm sóc của cháu con, của chế độ chính sách, nhưng Mẹ Hai cũng tuân theo quy luật muôn đời sinh, trưởng, hóa, thu, tàn. Ngày Mẹ nằm xuống, chúng tôi đếm được một trăm nước mắt đọng vành mi. mười chiếc khăn tang của con, rể, dâu, cháu nội ngoại, chắt. Người nào cũng nước mắt đọng vành mi,
Ai ai cũng kính yêu Mẹ. Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, UBND huyện Chợ Lách và xã Vĩnh Thành thực hiện đúng mong ước của Mẹ Hai và mai táng mẹ Hai thật trân trọng.
Chín mươi năm qua (1908 – 1998) một đời người khép lại. Hoa nở để mà tàn, nhưng Mẹ Hai Nguyễn Thị Nhơn là hoa bất tử. Mẹ là tấm gương sáng cho phụ nữ Vĩnh Thành học tập. Mẹ đã góp phần tô đậm tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” của người phụ nữ Việt Nam.



