Hoa lửa
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí tiếp tục được giao những trọng trách quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi nóng bỏng của sự nghiệp cách mạng. Bất kỳ ở đâu, trong hoàn cảnh nào, cả trong và ngoài Quân đội, đồng chí vẫn luôn thể hiện là đảng viên kiên trung, một nhà lãnh đạo tài năng, không chịu lùi bước trước bất kỳ khó khăn, thử thách nào.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí tiếp tục được giao những trọng trách quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi nóng bỏng của sự nghiệp cách mạng. Bất kỳ ở đâu, trong hoàn cảnh nào, cả trong và ngoài Quân đội, đồng chí vẫn luôn thể hiện là đảng viên kiên trung, một nhà lãnh đạo tài năng, không chịu lùi bước trước bất kỳ khó khăn, thử thách nào.
Để xây dựng Quân đội vững mạnh, đáp ứng yêu cầu đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước sang giai đoạn mới, năm 1950, đồng chí được giao làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Bí thư Tổng Quân ủy. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh, công tác đảng, công tác chính trị có bước tiến vượt bậc; trở thành “linh hồn, mạch sống” của Quân đội.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II năm 1951, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được cử vào Bộ Chính trị. Năm 1959, đồng chí được phong quân hàm Đại tướng.
Trưởng thành từ phong trào cách mạng, đến khi giữ các vị trí trọng trách của Đảng, Quân đội, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn là con người của thực tiễn, nắm bắt thực tiễn cộng với tư duy sáng tạo, đồng chí đã có những chỉ đạo quyết liệt, đúng đắn, giải quyết được những vấn đề căn cốt do thực tiễn cách mạng đặt ra. Trước những khó khăn trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên địa bàn Thừa Thiên, đồng chí đã đưa ra những chủ trương, quyết sách sáng tạo như: Không để mất dân, kiên trì bám đất, bám dân, tập hợp lực lượng, ổn định tổ chức, xây dựng căn cứ, sẵn sàng cho cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, các lực lượng vũ trang tích cực hỗ trợ nhân dân trong vùng tạm chiếm nổi dậy phá tề, trừ gian, diệt ác, đẩy mạnh chiến tranh du kích… đưa Bình-Trị-Thiên trở thành một điển hình trong phong trào đấu tranh của cả nước, được đúc kết kinh nghiệm và phổ biến rộng rãi trong nhiều địa phương. Đồng chí được mệnh danh là “Tướng du kích”, là linh hồn của cuộc kháng chiến ở Bình-Trị-Thiên.
Cuối năm 1964, đồng chí được điều vào miền Nam, giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam. Đây là một trong những thời điểm then chốt của cách mạng miền Nam. Trên cương vị người lãnh đạo, chỉ đạo cao nhất tại chiến trường, với tư duy chiến lược toàn diện cùng bề dày kinh nghiệm, đồng chí đã vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng, phân tích tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, dự báo chính xác diễn tiến của chiến tranh. Từ những đánh giá khoa học về thế và lực của cả ta và địch, đồng chí khẳng định: quân và dân ta hoàn toàn có đủ sức mạnh của chiến tranh nhân dân để “không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ, quyết thắng Mỹ”. Đại tướng cho rằng, để đánh thắng quân đội Mỹ, phải xây dựng lực lượng chủ lực mạnh, thực hiện tác chiến tập trung, tổ chức tác chiến quy mô chiến dịch. Đây là yêu cầu tất yếu khách quan của chiến tranh chính quy. Do đó, cùng với chỉ đạo phát triển lực lượng du kích, chiến tranh du kích, đồng chí đặc biệt chú trọng lãnh đạo xây dựng lực lượng chủ lực. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí, các “quả đấm chủ lực” của Quân giải phóng miền Nam đã lần lượt được thành lập.
Và từ thực tiễn chiến trường và qua báo cáo của cán bộ, chiến sĩ trực tiếp chiến đấu, Đại tướng đề ra khẩu hiệu: “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”. Từ đây, khẩu hiệu này trở thành phương châm chủ đạo trong cách đánh, tổ chức chiến dịch và thực hành chiến thuật để đánh thắng đế quốc Mỹ. Có thể nói, đây là cách đánh đặc thù của Việt Nam, đó là cách đánh gần, đánh thẳng vào quân Mỹ ở ngay căn cứ xuất phát hành quân của chúng, đánh bằng trang bị vũ khí, điều kiện của dân tộc Việt Nam, buộc kẻ địch mạnh phải đánh theo cách đánh của ta. Từ những trận thắng Mỹ đầu tiên ở Núi Thành - Quảng Nam (tháng 5/1965), Vạn Tường - Quảng Nam (tháng 8-1965), Đất Cuốc - thị xã Biên Hòa (tháng 11/1965), cùng những trận đánh Bầu Bàng, Ia Drăng... đã động viên, khích lệ tinh thần đánh Mỹ của quân dân cả nước. Cũng từ thực tiễn chiến đấu mà quân và dân miền Nam đã hình thành nên những “vành đai diệt Mỹ" ở ngay cửa ngõ Sài Gòn và các trung tâm lớn như Đà Nẵng...
Không chỉ là người chỉ đạo vững vàng, mưu lược, tài trí mà Đại tướng Nguyễn Chí Thanh còn góp phần quan trọng vào việc phát triển lý luận nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Từ thực tiễn chiến đấu và trải nghiệm của bản thân, ông đi sâu nghiên cứu, phát hiện sớm việc chuyển hướng chiến lược của Mỹ để Đảng điều chỉnh chiến lược phù hợp; đồng thời, trên cơ sở nắm bắt chuyển biến mới của chiến trường, đề xuất nhiều chủ trương chiến lược, sách lược đúng đắn, nhất là việc tổ chức các đơn vị chủ lực cơ động cấp trung, sư đoàn đứng chân trên các chiến trường miền Nam nhằm hình thành nên những cách đánh thích hợp, độc đáo của quân và dân Việt Nam.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã góp công lớn vào việc đặt cơ sở lý luận cho cách đánh của chiến tranh nhân dân, vạch rõ tính ưu việt, qua đó động viên, tổ chức các lực lượng vũ trang ta quán triệt tinh thần cách đánh đó theo tư tưởng quân sự của Đảng. Đồng chí đã có những cống hiến đặc biệt quan trọng trong những quyết định có tính chất bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xứng đáng là nhà chiến lược quân sự tài năng, người chỉ đạo thực tiễn xuất sắc, danh nhân chính trị, quân sự thời đại Hồ Chí Minh.
Ngày 6/7/1967, đúng vào ngày lên đường trở lại chiến trường miền Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đột ngột qua đời sau một cơn đau tim nặng.
Tấm gương tài, đức vẹn toàn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã được Trung ương Đảng đánh giá: “là một đồng chí lãnh đạo trung thành, lỗi lạc, người chỉ huy mưu lược, tài trí, một đồng chí dũng cảm, kiên quyết; một người con ưu tú, người lãnh đạo xuất sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví Đại tướng Nguyễn Chí Thanh như “đại bàng bay cao, nhìn xa”, “là một người thật thà, gan góc và kiên quyết”. Cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú, cùng với những cống hiến xuất sắc về lý luận và thực tiễn của đồng chí Nguyễn Chí Thanh là một di sản tinh thần quý báu trong lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam”.
Với những cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã được Đảng, Nhà nước trao tặng, truy tặng: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác.



