Hoa Lửa Chánh Phú Hòa

Hoa Lửa Chánh Phú Hòa
(Lời kể của ông Đoàn Văn Em – em trai ruột của Anh hùng Đoàn Thị Liên)
Mỗi lần nhìn lên tấm bằng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân treo trang trọng giữa gian nhà, lòng tôi lại nghẹn ngào nhớ về chị Liên. Chị tôi sinh ra và lớn sáu tại vùng đất đỏ Chánh Phú Hòa (Bến Cát, Bình Dương). Trong ký ức tuổi thơ của tôi, chị Liên là một người con gái hiền lành, chịu thương chịu khó nhưng ẩn sau đôi mắt trong sáng ấy là một ý chí vô cùng sắt đá. Năm 1965, khi tiếng súng kháng chiến chống Mỹ bùng lên dữ dội khắp miền Đông Nam Bộ, chị tôi lúc đó mới bước sang tuổi mười chín. Nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, chị giấu gia đình viết đơn tình nguyện gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong giải phóng miền Nam, được biên chế vào Đại đội 112. Ngày chị đi, chị chỉ kịp ôm lấy mẹ và dặn tôi ở nhà phải ngoan, đỡ đần cha mẹ thay phần chị.
Tháng 7 năm 1966, đơn vị của chị Liên tham gia phục vụ chiến dịch tại khu vực Tàu Ô. Qua những lời kể của các đồng đội cùng đại đội lặn lội về thăm gia đình tôi sau ngày đất nước hòa bình, tôi mới biết những ngày tháng ấy gian khổ và khốc liệt đến nhường nào. Chị tôi khi ấy đã là Tiểu đội trưởng, lúc nào cũng xung phong đi đầu trong những chuyến tải thương, tiếp đạn dưới mưa bom bão đạn. Các anh chị kể lại rằng, chị Liên nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn lắm, tính tình lại hay nhường nhịn, chăm sóc đồng đội như chị em ruột thịt trong nhà.
Trận đánh ngày 10 tháng 7 năm 1966 trở thành một ký ức đau thương nhưng oai hùng bám theo gia đình tôi suốt nhiều thập kỷ. Hôm đó, máy bay và pháo binh địch oanh tạc dữ dội, cày nát từng mét đất trận địa. Chị Liên cùng tiểu đội nhận lệnh khẩn cấp phải băng qua làn đạn dày đặc để đưa các chiến sĩ thương binh từ tiền tuyến về trạm phẫu thuật phía sau. Khi chiếc cáng thương của nhóm chị đang đi đến một trảng trống, tiếng gầm rú của máy bay oanh tạc bỗng vang lên ngay trên đỉnh đầu, đạn xới tung mặt đất xung quanh. Trong giây phút sinh tử ấy, giữa khoảng trống không có hầm hào trú ẩn, chị tôi đã đưa ra một quyết định mà đến tận bây giờ, mỗi lần nghe lại tôi vẫn trào nước mắt. Chị hô lớn một câu làm chấn động cả trận địa: "Thà hy sinh chứ không để thương binh bị thương lần thứ hai!".
Vừa dứt lời, chị Liên lập tức nhoài người, đem toàn bộ thân mình che chở cho người chiến sĩ thương binh đang nằm bất động trên cáng. Theo gương chị, các đồng đội xung quanh cũng dũng cảm lấy thân mình làm lá chắn bảo vệ thương bệnh binh. Một loạt đạn pháo nổ gầm gần đó, những mảnh đạn nghiệt ngã đã găm sâu vào ngực và chân của chị. Máu đỏ nhuộm đẫm chiếc áo sờn vai, nhưng điều đầu tiên chị hỏi khi tỉnh lại giữa vòng tay đồng đội không phải là vết thương của mình, mà là: "Anh thương binh có sao không các đồng chí?". Khi nghe tiếng đáp rằng người chiến sĩ ấy vẫn an toàn, chị nở một nụ cười nhẹ nhõm, thanh thản. Chị trút hơi thở cuối cùng ngay trên tay đồng đội khi vừa tròn hai mươi hai tuổi xuân xanh.
Lời hô của chị Liên trong buổi sáng định mệnh ấy sau đó đã trở thành khẩu hiệu hành động, là lý tưởng sống dọc hành trình ra trận của hàng vạn Thanh niên xung phong miền Nam. Chị tôi đã nằm lại với đất mẹ khi tuổi đời còn quá trẻ, nhưng đối với gia đình tôi và mảnh đất Bình Dương kiên cường, chị chưa bao giờ ra đi. Chị vẫn sống mãi như một bông hoa lửa, rực cháy lòng quả cảm và tình đ



