Bài viết

Hoa lửa còn trong mắt người xưa

Đồng Nai03/07/2026XÃ ĐỒNG TÂM (XÃ ĐỒNG TÂM)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau hơn nửa thế kỷ kể từ ngày đất nước thống nhất, ký ức về những năm tháng thanh niên xung phong vẫn vẹn nguyên trong tâm trí ông Nguyễn Quốc Sử và bà Quách Thị Nga. Một người rời ghế nhà trường, một người rời mái nhà khi mới 16 tuổi, họ đã gửi trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, để hôm nay trở thành những nhân chứng sống kể lại câu chuyện về lòng yêu nước, sự hy sinh và khát vọng hòa bình.

Gác bút nghiên, theo tiếng gọi non sông

Trong căn nhà ở ấp 3, xã An Biên (tỉnh An Giang), ông Nguyễn Quốc Sử vẫn cẩn thận lưu giữ những kỷ vật của một thời chiến. Mỗi lần nhắc về quãng đời thanh niên xung phong, ánh mắt người cựu chiến binh như sáng lên, xen lẫn niềm tự hào và những hồi ức không thể nào quên.

Ông sinh ra ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (cũ), vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Cha ông từng là dân quân du kích trong kháng chiến chống Mỹ. Chính truyền thống gia đình đã nuôi dưỡng trong cậu học trò tuổi mười tám một khát vọng được góp sức cho đất nước.

Đầu năm 1975, khi đang học lớp 8, ông quyết định gác lại việc học để viết đơn tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong. “Lúc đó chỉ nghĩ miền Nam sắp giải phóng rồi, mình phải góp một phần sức lực. Nghe tin chiến sự qua chiếc radio nhỏ, ai cũng háo hức muốn lên đường”, ông Sử nhớ lại.Những ngày trên tuyến đường Trường Sơn và chiến trường Quảng Trị là chuỗi ngày gian khổ. Công việc của đơn vị là san lấp hố bom, dọn dẹp chiến trường, mở đường để bộ đội hành quân. Giữa đại ngàn, lán trại chỉ được dựng tạm dưới tán rừng. Đêm xuống, rắn độc bò quanh nơi ngủ. Bữa ăn chủ yếu là lương khô, cơm nắm, nước suối. Muốn nấu cơm cũng không dám nổi lửa vì sợ khói bốc lên sẽ trở thành mục tiêu cho máy bay địch.“Khổ nhất là sốt rét rừng. Anh em thay nhau chăm sóc, thuốc men thì ít lắm, ai khỏe đỡ người yếu. Vậy mà chẳng ai nghĩ đến chuyện bỏ cuộc”, ông kể.Ngày đất nước thống nhất, nhiều người trở về quê hương, còn ông tiếp tục ở lại Thành cổ Quảng Trị đến năm 1976 để rà phá bom mìn, đào kênh, làm thủy lợi khôi phục sản xuất. Năm 1977, ông nhập ngũ, tiếp tục tham gia chiến trường Campuchia.Hòa bình lập lại, ông chuyển ngành về Kiên Giang (nay là An Giang) sinh sống từ năm 1981. Phẩm chất người lính vẫn theo ông trong cuộc sống đời thường. Ông từng nhiều năm làm bí thư chi bộ, trưởng ấp và hiện là Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh, Chi hội trưởng Hội Chữ thập đỏ ấp 3. Ông Sử nói: “Ngày xưa mình đánh giặc để người dân có cuộc sống yên bình. Bây giờ giúp bà con làm ăn, thoát nghèo cũng là tiếp tục cống hiến”Trong căn nhà tình nghĩa được Nhà nước trao tặng năm 2015, bà Quách Thị Nga, ngụ ấp Đông Quý, xã An Biên nhẹ nhàng lật từng trang ký ức của tuổi mười sáu.

Năm 1966, cô gái nhỏ ở vùng đất Cà Mau cùng vài người bạn quyết định rời quê lên đường làm thanh niên xung phong. Có người đang đứng lớp dạy học cũng gác lại tất cả để theo tiếng gọi non sông. “Các chú thấy tôi còn nhỏ, sợ không chịu nổi sốt rét rừng ở miền Đông, nên động viên tôi ở lại, nhưng tôi nhất quyết đi”, bà Nga kể.

Đơn vị của bà hành quân bộ suốt một tháng hai mươi bảy ngày mới đến chiến trường. Rừng già không chỉ có bom đạn mà còn có những cơn sốt rét triền miên. Tóc rụng, người xanh xao, nhiều đồng đội ngã xuống vì bệnh tật trước khi kịp đối mặt quân thù.Hoạt động chủ yếu ở Tây Ninh, Bình Dương và Củ Chi, bà cùng đồng đội sống dưới địa đạo, hầm sâu. Có nơi không có nước, sáng sớm mọi người phải múc từng muỗng nước mưa đọng trong dấu chân trâu, bỏ thuốc lọc rồi mới dám nấu uống. Đêm ngủ chỉ có chiếc võng và tấm tăng nhỏ. Nếu căng không khéo, nước mưa theo thân cây chảy thẳng vào võng, ướt lạnh suốt đêm.

Nhiệm vụ của bà Nga là tải gạo, tải đạn và khiêng thương binh. Mỗi chuyến, đôi vai gầy gánh khoảng 20kg hàng, băng rừng suốt ngày đêm. Điều khiến bà nhớ nhất là những lần cáng thương dưới mưa bom.“Mệnh lệnh là không được để thương binh bị thương lần thứ hai. Có lúc pháo rơi, chúng tôi nằm đè lên người thương binh để che chắn bằng chính thân mình”, bà kể, giọng chùng xuống.

Có những ký ức không nằm trong những tấm huân chương, mà ở chính những giai điệu đi cùng tuổi trẻ. Bà Nga kể, những đêm nghỉ chân giữa rừng, sau một ngày tải đạn hay khiêng thương binh, anh chị em thanh niên xung phong lại cất tiếng hát.

Đến bây giờ, bà Nga vẫn còn nhớ giai điệu của ca khúc “Thanh niên xung phong” của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu. Mỗi lần ngân nga câu hát về ý chí vượt núi, băng sông và quyết tâm đi đầu, bà như thấy cả một thời tuổi trẻ hiện về. “Hồi đó nghe bài nào cũng thấy mình có thêm sức mạnh. Cứ hát rồi lại bước tiếp, quên cả mệt, quên cả sợ”, bà Nga mỉm cười nhớ lại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn