Hoa Lửa Trên Đỉnh Trường Sơn
Nguyên chiến sĩ thuộc Trung đoàn Cao xạ 210, bảo vệ tọa độ lửa Ngã ba Đồng Lộc năm 1968. Sau chiến tranh, ông trở về làm giáo viên dạy Văn, mang theo ký ức về một "bông cúc dại" mãi mãi tuổi hai mươi nơi tuyến đầu bom đạn.
Mùa hè năm 1968, Ngã ba Đồng Lộc không có ngày đêm. Mặt đất bị cày xới đến mức không một ngọn cỏ nào kịp mọc lại. Tiếng bom gầm rú và khói bụi bủa vây khắp nơi. Khi đó, Nguyễn Minh Thuận mới tròn 20 tuổi, là pháo thủ số 3 của mâm pháo cao xạ, ngày đêm nhìn chằm chằm lên bầu trời đầy rẫy máy bay phản lực của địch.
Hồi ấy, thanh niên ra trận mang theo trái tim lãng mạn vô ngần. Giữa những trận oanh tạc kinh hoàng, niềm vui duy nhất của Thuận là những cái vẫy tay vội vã của các cô gái thanh niên xung phong thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552 khi họ đi san lấp hố bom. Trong số những cô gái tóc vương bụi đường ấy, Thuận đem lòng mến thương Lê Thị Hạ — cô gái nhỏ nhắn có nụ cười răng khểnh và giọng hò xứ Nghệ ngọt lịm.
Họ chưa kịp có một lời tỏ tình chính thức. Tình cảm thời hoa lửa chỉ gói gọn trong chiếc ca múc nước chuyền tay nhau lúc ngớt tiếng bom, hay nhánh hoa cúc dại hái vội bên bìa rừng được Hạ khéo léo ép vào cuốn sổ tay bìa bọc nilon của Thuận. Hạ từng bảo:
"Anh Thuận này, mai mốt hòa bình, anh về quê dạy học, nhớ viết một bài thơ thật đẹp về Đồng Lộc của tụi mình nhé!"
Chiều ngày 24 tháng 7 năm 1968, bầu trời Đồng Lộc đỏ quạch như máu. Máy bay địch điên cuồng trút bom xuống tọa độ. Mâm pháo của Thuận bắn trả quyết liệt cho đến khi nòng pháo nóng rực. Từ trận địa nhìn ra, Thuận thấy bóng áo xanh của các cô gái TNXP đang lao ra mặt đường để thông tuyến cho xe qua.
Một loạt bom tọa độ dội xuống ngay vị trí của Tiểu đội 4.
Khói bom vừa tan, Thuận và đồng đội lao xuống. Nhưng tất cả đã quá muộn. Mười cô gái trẻ măng đã nằm lại với đất mẹ Đồng Lộc, trong đó có Hạ. Khi Thuận tìm thấy Hạ, bàn tay cô vẫn còn vương những vạt đất đỏ, gương mặt thanh tú như đang ngủ một giấc dài sau những giờ lao động mệt nhoài. Cô ra đi, mang theo cả nụ cười răng khểnh và lời hẹn ước mùa hòa bình.
Chiến tranh qua đi, Nguyễn Minh Thuận trở về quê nhà với những vết thương trên da thịt và một khoảng trống không thể lấp đầy trong lồng ngực. Ông trở thành thầy giáo dạy Văn như ước nguyện năm xưa. Cuốn sổ tay có nhánh hoa cúc dại ép khô của Hạ luôn được ông đặt ở vị trí trang trọng nhất trên bàn làm việc.
Mỗi năm, cứ đến tháng 7, người cựu chiến binh tóc đã bạc phơ lại lặng lẽ bắt xe về lại Ngã ba Đồng Lộc. Ông không viết thơ, nhưng mỗi bài giảng của ông về lòng yêu nước, về cái giá của hòa bình cho các thế hệ học trò chính là khúc vĩ thành thiêng liêng nhất mà ông viết riêng cho Hạ, và cho một thời hoa lửa không bao giờ phai nhạt.



