Anh hùng Lực lượng vũ trang

Hoa Mộc Lan của vùng đất Nam Bộ - Trần Thị Quang Mẫn

Bà mẹ Việt Nam anh hùng và Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Quang Mẫn (1926 - 2021) hay còn được biết đến với cái tên Trần Quang Mẫn. Cuộc đời bà gắn liền với nhiều giai thoại thời chiến, nổi tiếng với câu chuyện giả trai để đi kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Được đồng đội và nhân dân ta kính trọng như một biểu tượng của tinh thần quả cảm và lòng trung kiên của người phụ nữ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến.

Đồng Tháp11/02/2026Chi đoàn ĐH Du lịch 24B (Trường Đại học Tiền Giang)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bà được sinh ra trong một gia đình khá giả tại ở huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Là người con thứ năm trong gia đình nên được gọi thân mật là Sáu Mẫn. Từ thời niên thiếu bà đã sớm bộc lộ tính cách gan dạ và tinh thần yêu nước mạnh mẽ của mình. Nhờ điều kiện gia đình khá giả bà được cho ăn học đầy đủ hơn nhiều bạn bè đồng trang lứa. Song song với việc học chữ bà còn được theo học võ thuật từ đó hình thành nên tính cách cứng cỏi và bản lĩnh đặc biệt của bà sau này. Khi bước vào tuổi trưởng thành, để được góp phần vào tham gia lực lượng chiến đấu bà đã quyết định cải trang thành con trai và lấy tên là Trần Quang Mẫn.

Năm 1945, khi đất nước vừa giành được độc lập chưa bao lâu, chiến tranh lại ập đến với làn sóng tái chiếm của thực dân Pháp. Khi bà mới đôi mươi, gan góc và giàu nhiệt huyết bà đã lựa chọn con đường mà không phải người phụ nữ nào thời ấy cũng dám làm, bỏ lại sự bảo bọc của gia đình để tham gia kháng chiến. Cùng em gái Bảy Trâm, bà lặng lẽ trốn khỏi nhà, để lại sau lưng là nỗi lo của cha mẹ và những ngày bình yên của tuổi trẻ.

Sáu Mẫn khao khát được trực tiếp cầm súng, được đứng ở tuyến đầu thay vì chỉ làm công tác hậu cần như phần lớn phụ nữ lúc bấy giờ. Và để thực hiện điều đó, bà quyết định khoác lên mình một danh phận khác lấy tên Trần Quang Mẫn. Quyết định ấy không chỉ là sự liều lĩnh mà còn là minh chứng cho sự khát vọng chiến đấu đến tận cùng của bà.

Năm 1946, cô gái miền Tây đã trở thành chiến sĩ Vệ quốc đoàn, hoạt động giữa rừng tràm U Minh Thượng. Những trận càn, những đêm phục kích, những lần thoát chết trong gang tấc…đã tạo nên một chiến sĩ dũng cảm và bản lĩnh. Nhờ thành tích xuất sắc, năm 1950, bà được đề bạt làm Đại đội trưởng – một vị trí hiếm có với một người mà đồng đội vẫn lầm tưởng là nam giới.

Thân phận thật của bà bị lộ vào một ngày chẳng ai ngờ tới, một người thanh niên được gia đình hứa hôn xuất hiện tại đơn vị đòi cưới “chú Mẫn”. Cuộc gặp định mệnh ấy đưa bà đến một mối duyên ngắn ngủi với người chồng sau này cùng tham gia chiến đấu. Nhưng niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ấy kéo dài không lâu. Đến năm 1952, khi đang mang thai và trở về nhà chờ sinh, bà nhận tin chồng đã hy sinh trong trận đánh đồn Chàng Chẹt. Nhưng nỗi mất mát và đau buồn ấy không làm tắt ngọn lửa chiến đấu trong bà.

Sau Hiệp định Geneva 1954, thay vì tập kết ra Bắc, bà nhận nhiệm vụ ở lại, hoạt động bí mật và giữ chức Phó Bí thư chi bộ xã Thạnh Hòa. Từ đây, cuộc đời bà rẽ sang một con đường mới với những nhiệm vụ nguy hiểm, những trận chiến âm thầm giữa vùng địch kiểm soát. Bà tham gia “Đội bảo vệ hòa bình”, rồi được điều về Đại đội 2 an ninh vũ trang, đơn vị chuyên trừng trị các chỉ huy cao cấp của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Nhiệm vụ táo bạo nhất đến vào giữa năm 195 là ám sát Thiếu tá Lâm Quang Phòng, Chi khu trưởng kiêm quận trưởng An Phước. Đêm 19/7/1958, dưới ánh đèn tù mù và tiếng côn trùng rả rích, bà dùng dao phay tấn công khi ông đang ngủ. Nhát chém khiến ông trọng thương nhưng không giết được, trong khoảnh khắc sinh tử ấy bà bị vệ sĩ bắt giữ.

Sau phiên xét xử, bà bị kết án nặng 12 năm khổ sai, 5 năm biệt xứ. Những năm tháng trong ngục tù là thử thách khốc liệt, nhưng không thể bẻ gãy ý chí người nữ chiến sĩ. Bà được trả tự do cuối năm 1966 lúc ấy bà gầy yếu, nhưng đôi mắt vẫn sáng rực niềm kiên định.

Ngay khi ra tù, bà được tổ chức đưa về căn cứ. Năm 1967, bà được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Giải phóng, sự ghi nhận xứng đáng cho những năm tháng bà cống hiến cả thanh xuân. Bà vinh dự được vào đoàn Dũng sĩ miền Nam ra Bắc và được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – khoảnh khắc thiêng liêng mà bà luôn nhắc đến như niềm tự hào lớn nhất đời mình.

Những năm sau đó, bà tiếp tục công tác tại Quân khu 9, lặng lẽ cống hiến đến khi nghỉ hưu với quân hàm Thiếu tá. Năm 1994, Nhà nước trao tặng bà danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Cho đến ngày 23/3/2021, người nữ chiến sĩ kiêu hùng ấy trút hơi thở cuối cùng tại TP.HCM, khép lại cả hành trình 95 năm đầy mất mát, kiên gan và bất khuất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn