Bài viết

Hòa thượng Huệ Quang, thế danh là Nguyễn Văn Ân

Vĩnh Long12/01/2026Đoàn xã Cầu Ngang (Đoàn xã Cầu Ngang)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

HÒA THƯỢNG HUỆ QUANG

Hòa thượng Huệ Quang, thế danh là Nguyễn Văn Ân, sinh năm 1888 tại Ô Môn, Cần Thơ. Thuở nhỏ, hòa thượng theo mẹ về sống ở quê ngoại, tỉnh Trà Vinh.

Bản tính mộ đạo, năm 14 tuổi hòa thượng xin mẹ cho phép xuất gia, vào tu ở chùa Long Thành, tại xã Lưu Nghiệp Anh, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh với pháp danh Thiện Hải.

Năm 1919, lúc 31 tuổi, sư đến cầu pháp với hòa thượng Từ

Vân, được cải pháp hiệu là Huệ Quang.

Năm 1928, Hòa thượng thành lập Thư xã. Năm sau, Hòa thượng vận động Phật tử in một đại tạng kinh toàn bản gồm 750 quyển làm tài liệu nghiên cứu tại Thư xã

Năm 1931, Hòa thượng tham gia thành lập "Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học" tại Sài gòn. Hội này xuất bản tạp chí "Từ bi âm" để quảng bá Phật pháp.

Hòa thượng muốn mở một Phật học viện tại Sài Gòn nhưng cơ duyên chưa đủ nên Hòa thượng về lại Trà Vinh cùng các Hòa thượng Khánh Hòa, Chánh Tâm, Viên Giác thành lập một

"Liên đoàn Phật học". Các học tăng tu học từng tam cá nguyệt lần lượt tại các chùa Long Hòa (Tiểu cần), Thiên Phước (Trà Ôn) và Viên Giác (Bến Tre). Nhưng có lẽ công đức lớn nhất của Hòa thượng Huệ Quang đối với Phật giáo là việc thành lập Lưỡng Xuyên Phật học đường ở Trà Vinh.

Tháng 8/1934, cùng với các Hòa thượng Khánh Hòa, Khánh Anh, Pháp Hải ... Hòa thượng thành lập Hội Lưỡng Xuyên và xây dựng trường Phật học tại địa điểm chùa Long Phước ở ấp Thanh Lệ, làng Long Đức, tỉnh Trà Vinh. Hòa thượng Huệ Quang được cử làm Chánh Tổng lý kiêm giảng sư Lưỡng Xuyên Phật học đường.

Tháng 10/1935, Hội Lưỡng Xuyên Phật học xuất bản tạp chí "Duy Tâm" để hoằng dương Phật pháp. Hòa thượng Huệ Quang làm chủ nhiệm tạp chí. Tạp chí "Duy Tâm" đăng cáo bài nghiên cứu, các bài giảng kinh luật, các nghị luận và những thông tin về Phật học.

Tháng 8/1945, Cách mạng Tháng 8 thành công. Cuối năm đó, thực dân Pháp trở lại chiếm Trà Vinh. Lưỡng Xuyên Phật học đường ngưng hoạt động. Một số tăng sinh lên đường tham gia cách mạng. Hòa thượng Huệ Quang lui về chùa cũ Long Hòa ở Tiểu Cần. Hòa thượng được cử làm ủy viên xã hội thuộc Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Trà Vinh. Thời gian này, Hòa thượng đã đem tài y học cứu chữa và chăm sóc sức khỏe cho cán bộ và nhân dân. Rồi Hội Phật giáo cứu quốc miền Tây Nam Bộ được thành lập, Hòa thượng được cử làm Chủ tịch. Hội đã động viên sức người, sức của trong giới Phật tử, góp phần vào công cuộc kháng chiến buổi đầu còn gặp nhiều khó khăn.

Đầu những năm 1950, Hòa thượng lên Sài Gòn, trụ trì tạ chùa Phật Quang (ở quận 5, gần Sân vận động Thống Nhất) vận động thành lập giáo hội Tăng già Nam Việt.

Ngày 08 tháng 03 năm 1953, Hòa thượng được suy tôn làm Pháp chủ Giáo hội Tăng già Nam Việt.

Năm 1956, Tổng hội Phật giáo Việt Nam thành lập, Hòa thượng được cử làm Phó hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam.

Ngày 10 tháng 11 năm 1956, Hòa thượng lãnh đạo một phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi dự Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ 4 tại Népal. Đối với Hòa thượng Huệ Quang, đây đúng là chuyến đi về xứ Phật.

Hòa thượng viên tịch hồi 18 giờ 15 phút ngày 02 tháng 12 năm 1956 tại một bệnh viện ở New Delhi (Ân Độ)

Ngày 10 tháng 12 năm 1956, linh vị của hòa thượng Huệ Quang được rước về thờ ở chùa Ấn Quang - Sài Gòn, trụ sở của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, còn thân tứ đại của Hòa thượng thì gởi lại nơi đất Phật.

Cuộc đời của Hòa thượng Huệ Quang là tấm gương của một bậc chân tu suốt đời hoạt động quên mình để phụng sự đạo pháp và dân tộc./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn