Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

HOÀI CHÂU - NHỮNG NGÀY SAU HIỆP ĐỊNH PARIS NĂM 1973

Đoạn văn kể về cuộc chiến đấu ác liệt của Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 Sao Vàng cùng quân và dân Hoài Châu (Hoài Nhơn, Bình Định) sau khi Hiệp định Paris năm 1973 có hiệu lực nhưng quân đội Sài Gòn vẫn tiếp tục vi phạm và mở các cuộc tấn công lấn chiếm. Với sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội và nhân dân, các trận chiến tại Quy Thuận, Đồi 9, Đồi 10 đã đánh bại nhiều đợt tiến công của Sư đoàn 22 Ngụy, giữ vững trận địa. Qua đó làm nổi bật tinh thần chiến đấu kiên cường, tình đoàn kết quân – dân và sức m

Đồng Nai28/03/2026Phạm Thị Minh Thoa (Đoàn xã Xuân Bắc)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trước khi Hiệp định Paris được ký kết, phản bội lòng mong mỏi của nhân dân ta được sống trong hòa bình sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn khốc, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Ngụy Sài Gòn đã điên cuồng gào thét chiến tranh. Hiệp định Paris về Việt Nam đã bị Thiệu xé toang ngay từ khi chữ ký chưa ráo mực, súng vẫn nổ, máu vẫn đổ sau ngày 28 tháng Giêng – ngày Hiệp định Paris có hiệu lực...
Cũng như các nơi khác trên địa bàn tỉnh Bình Định, nơi Sư đoàn 3 đứng chân hoạt động, chiến sự vẫn tiếp diễn, máu của chiến sỹ và đồng bào ta vẫn đổ.
Sáng ngày 28-1, tên Nguyễn Văn Toàn – Tư lệnh Quân đoàn 2 Ngụy đã ra lệnh cho Sư đoàn 22 bộ binh, một liên đoàn biệt động cùng năm chi đoàn xe bọc thép, bốn tiểu đoàn pháo binh và toàn bộ lực lượng không quân ở ba sân bay trong tỉnh mở ba cuộc tấn công ồ ạt vào ba khu vực Nam Bồng Sơn – Bắc Phù Mỹ, Bắc Bồng Sơn – Nam Đệ Đức và Bắc Tam Quan – Nam Bình Đê nhằm khai thông đường số 1 và giành lại hai cửa biển là Tam Quan và cảng biển Sa Huỳnh. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra liên tục và quyết liệt.
Trong lúc những trận đánh ác liệt đang diễn ra ở cầu Vợi – Lại Khánh và các nơi khác thì trên Đồi 9, Đồi 10 thuộc xã Hoài Châu (Hoài Nhơn), bọn địch vẫn tỏ ra “chấp hành nghiêm túc” Hiệp định Paris. Ở những khu vực đó, Sư đoàn 3 - Sao Vàng và địa phương chủ trương mở các cuộc tiếp xúc giữa ta và địch, dựng cổng chào, dựng cờ hòa hợp. Thông qua các cuộc tiếp xúc này, ta đã trao cho các sỹ quan Ngụy những văn bản về Hiệp định Paris, những chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam... Đồng thời cũng trao cho chúng những tài liệu tố cáo hành động vi phạm của quân đội Ngụy Sài Gòn, kêu gọi họ hãy chấp hành đúng những quy định của Hiệp định để nhân dân yên ổn trong cảnh hòa bình làm ăn sinh sống...
Qua nhiều buổi tiếp xúc, bọn sỹ quan, binh lính ở đây đã phân biệt được bản chất hai chế độ và dần dần trở thành nỗi ám ảnh trong tư tưởng họ. Trạm tiếp xúc ở Đồi 9, Đồi 10 đã không dừng lại ở các nhà “hòa hợp” với mấy tên sỹ quan tâm lý chiến của địch, đồng bào còn tổ chức thành từng tốp năm người, bảy người gồm những bà, những chị có trình độ vừa thuyết phục vừa nắm được lý lẽ để “trả miếng” bọn chúng. Khi gặp địch cản lại, các bà nói: “Tụi tui đi làm điều nhơn, điều nghĩa chớ có đi chiếm chốt của các ổng đâu mà các ổng cản bà con tui” hoặc “Tụi tui toàn đàn bà con gái, tay không có súng ống, mần chi các ổng phải sợ...”. Cứ như thế, đồng bào Hoài Châu, Hoài Sơn bền bỉ đấu tranh làm cho binh lính trong các đồn bốt ngán ngẩm bỏ bê công việc. Bọn chỉ huy phải tính đến việc thay thế bọn lính khác về vùng này để bảo đảm “sự trong sạch” hàng ngũ của chúng. Để hỗ trợ cho mũi đấu tranh chính trị, Sư đoàn với địa phương đầu tư vào đây nhiều cụm loa pin, loa tay tạo thành hệ thống truyền thanh thường xuyên từ Quy Thuận đến Chương Hòa, nói lên tiếng nói chính nghĩa của dân tộc, tố cáo hành động vi phạm của địch... Bằng sức mạnh của mũi đấu tranh chính trị của nhân dân, bọn địch lúng túng hoảng hốt. Đến cuối tháng 7-1973, bọn chúng bị thất bại trước lý lẽ vô cùng sắc bén và thiết thực của đồng bào, chúng buộc phải cắt đứt quan hệ, đình chỉ các cuộc tiếp xúc và tình hình từ đó trở nên căng thẳng...
Những ngày yên ả sau Hiệp định ngắn ngủi, các chiến sỹ Trung đoàn 12 vừa ngày đêm sẵn sàng chiến đấu, vừa tích cực củng cố các tuyến phòng thủ. Ngày đêm các chiến sỹ cùng với hàng trăm người dân ở vùng cát trắng này hăng hái xây dựng công sự, hầm kèo, hào chiến đấu. Hầm trú ẩn cho nhân dân cũng được sửa chữa và xây dựng mới. Tất cả đều chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới sẽ lại bắt đầu. Công việc bề bộn, khẩn trương nhưng ai nấy đều vui vẻ và tin tưởng. Những khẩu hiệu “Chốt là nhà, trận địa là quê hương” được kẻ vẽ đậm nét trên vách hầm, tường nhà... Cuối tháng 7- nghĩa là sau ba tháng tạm thời hòa hoãn, địch tuyên bố chấm dứt những cuộc gặp gỡ,chúng đơn phương gây xung đột với ta ở vùng cát trắng này.
Đầu tháng 8, toàn bộ quân chủ lực Ngụy đang phòng thủ chốt giữ trên tuyến Hoài Ân được lệnh rút ra giao cho lực lượng Bảo An, chi đoàn 23, thiết đoàn 14 kéo về tập kết ở căn cứ Đệ Đức. Tất cả những hiện tượng ấy cùng với việc địch tuyên bố chấm dứt những cuộc tiếp xúc là bằng chứng chúng đang ráo riết chuẩn bị âm mưu mới ở phía Bắc huyện Hoài Nhơn – nơi Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 bảo vệ.

Có thể nói mảnh đất Hoài Nhơn này các chiến sỹ Trung đoàn 12 đã gắn bó bằng xương máu của mình. Mấy năm qua họ đã khắc sâu tình nghĩa của đồng bào trong những lúc khó khăn, gian khổ. Họ cũng cảm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào “thà chết chớ không để bọn chúng dồn vào các ấp chiến lược”, “thà chết nhất định không để địch chiếm nơi đây”, “thà chết quyết không rời bộ đội” v.v... Đó là bài học lớn, là nguồn sinh lực lớn tiếp sức cho các chiến sỹ Trung đoàn 12 nói riêng và Sư đoàn 3 nói chung. Giờ đây: Thế cách mạng đã vững, lực lượng cách mạng đã mạnh thì niềm tin của họ đối với đồng bào càng vững chắc, không có gì có thể lay chuyển được.
Ban ngày trực tiếp tham gia chiến đấu cùng bộ đội, ban đêm nhân dân, dân quân du kích ở các xã Hoài Châu, Tam Quan, Hoài Sơn, Hoài Thanh, Hoài Hảo...lại cùng các chiến sỹ củng cố hầm hào mà bom đạn địch phá vỡ ban ngày, tiếp lương thực, vận chuyển đạn dược, thương binh... Ở xóm 2 Quy Thuận lúc nào cũng đông và nhộn nhịp vì đây là Sở chỉ huy của Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12. Nhân dân ở đây rất nghèo về vật chất, chỉ một củ sắn, một củ khoai, một tấm bánh tráng...bà con cũng dành cho bộ đội, cho nên các chiến sỹ Trung đoàn 12 đã thề “Sống làm con đồng bào Hoài Châu, hy sinh cũng vùi trên đất Hoài Châu”.
Thế là cái gì đến sẽ đến. Sư đoàn 22 ngụy công khai mở cuộc hành quân lấn chiếm các xã phía Bắc huyện Hoài Nhơn. Rạng sáng ngày 7-9-1973, Trung đoàn 41 bộ binh và thiết đoàn 14 được chúng đẩy lên phía trước làm lực lượng xung kích. Mục tiêu của chúng là chiếm bằng được thôn Quy Thuận, Đồi 9, Đồi 10 để làm bàn đạp đánh bật lực lượng Trung đoàn 12 ra khỏi Bắc Hoài Nhơn, mở rộng vùng kiểm soát của chúng. Biết trước mưu đồ của địch, Bộ tư lệnh Sư đoàn Sao Vàng đã ra lệnh cho toàn bộ lực lượng Trung đoàn 12 sẵn sàng chiến đấu. Trước đó một tuần lễ, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 2) cũng được lệnh hành quân, chiến đấu. Sở chỉ huy tiền phương của Sư đoàn được triển khai sát sở chỉ huy Trung đoàn 12 tại Hoài Sơn. Các Đại đội tên lửa H12, cối 120 ly cũng gấp rút chiếm lĩnh trận địa để chi viện cho Trung đoàn 12 ở phía trước.
Sáng hôm ấy, chúng huy động ba cánh quân có 18 xe tăng, xe bọc thép yểm trợ đánh vào khu vực chốt giữ của Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12 ở xã Hoài Châu. Sau khi mấy trận địa pháo ngừng bắn, bộ binh và xe tăng địch dồn hàng ngang tiến vào. Thoạt đầu chúng dè dặt thăm dò, nhưng khi cách trận địa ta 100m mà vẫn thấy yên tĩnh, chúng vội vã hô quân tràn tới. Trận địa Tiểu đoàn 4 vẫn giữ bí mật để chúng vào thật gần mới bật dậy nổ súng. Ở thôn Quy Thuận, các chiến sỹ Đại đội 41 do Đại đội trưởng Oánh và chính trị viên Thêm chỉ huy, đồng loạt bắn B40, B41. Hai quả đạn B41 của chiến sỹ Trung đội 1 cùng một lúc trùm lên chiếc xe tăng M48 (loại xe tăng hiện đại nhất ở chiến trường) và chiếc M113 đi đầu, khẩu pháo 85 nòng dài trên tháp xe tăng M48 bị gục, hai chiếc xe bốc khói đen kịt, các chiếc khác còn lại vội vã quay đầu tháo lui. Các cánh quân khác của chúng cũng chung số phận phải tháo chạy cùng xe tăng. Tấn công không được, địch lùi ra, các trận pháo ở Đệ Đức, Tam Quan và ngoài tàu biển bắn phá vào thôn Quy Thuận. Lúc này không gian ở đây chỉ thấy khói pháo và cát bụi. Khi pháo ngừng, chúng dùng máy bay đến dội bom. Cứ như thế sau từng đợt pháo bom chúng lại cho bộ binh hò hét xung phong. Đánh suốt ngày mà không chiếm được mục tiêu, chúng phải lui quân về Đệ Đức. Trận địa của ta hoàn toàn được giữ vững.
Cay cú, ngày hôm sau, mồng 8 tháng 8, chúng dùng hơn một Tiểu đoàn của Trung đoàn 41 cộng với 11 xe tăng, xe bọc thép đánh chính diện vào thôn Quy Thuận, thu hút toàn bộ lực lượng của ta vào hướng này, đồng thời cho xe tăng và hai đại đội bộ binh đánh vòng về phía Gia An, toan thọc sườn sở chỉ huy Tiểu đoàn 4 ở Quy Thuận. Nhưng “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, cánh quân vu hồi này đã bị Đại đội 63 Tiểu đoàn 6 và Đại đội 42 Tiểu đoàn 4 chặn đứng ở những ruộng mía và gò bãi dưới chân đồi 10. Đại đội trưởng Xoàng và chính trị viên đại đội 42 Nguyễn Hữu Ba, mỗi người dẫn một mũi đánh tạt sườn quân địch. Xạ thủ B41 Nguyễn Hồng Sánh vận động tiếp cận bắn cháy hai xe tăng. Những chiếc còn lại vội vã tháo chạy, bộ binh địch hoảng loạn tinh thần, mạnh thằng nào thằng ấy chạy ra đường số 1... Liên tục nhằm vào mục tiêu thôn Quy Thuận và Đồi 9, Đồi 10, ngày 15,16,17 tháng 8, chúng thay đổi thủ đoạn đột kích. Một mặt cho tăng cường mật độ phi pháo, một mặt chúng đổi hướng tấn công vào Tây Nam Quy Thuận. Nhưng tại đây chúng đã bị hai trận tập kích. Trên bãi cát thôn An Quý, hai đại đội địch chỉ còn 16 tên sống sót chạy về thị trấn Tam Quan.
Cách Đồi 10 không xa, thôn Quy Thuận và nhà thờ vẫn sừng sững đứng đó, ở đây, địch đã bắn hàng ngàn quả pháo các loại, hàng trăm tấn bom. Nhà thờ và tháp chuông dù đã bị đổ vỡ từng mảnh nhưng vẫn ngạo nghễ hiên ngang trước mặt kẻ thù như tinh thần bất khuất của đồng bào Hoài Châu vậy.

Những trận chiến đấu của các chiến sỹ Trung đoàn 12 tại mảnh đất này kéo dài trong mấy tháng trời, làm thất bại mọi thủ đoạn tấn công của Sư đoàn 22 Ngụy. Ý chí lấn chiếm Quy Thuận bắt nguồn từ chính quyền Trung ương Ngụy Sài Gòn. Khoảng tháng 10-1973, Nguyễn Văn Thiệu – Tổng thống Ngụy Sài Gòn đã đến Bồng Sơn, Tam Quan ra lệnh cho sư đoàn 22 và liên đoàn biệt động số 4 phải chiếm cho đuợc nhà thờ Quy Thuận và Đồi 9, Đồi 10... Được Tổng thống tiếp sức, Sư đoàn Ngụy dồn toàn bộ lực lượng để chiến đấu với Trung đoàn 12 “Việt cộng”. Hơn bốn tuần lễ điều quân như “đèn cù”, hết thê đội này đến thê đội khác, được pháo binh và không quân chi viện tối đa, hết đánh từ An Quý lên, từ đèo Bình Đê xuống, hết thọc từ Chương Hòa, Đồi 9, Đồi 10 rồi vu hồi từ Gia An sang, cuối cùng, địch chỉ lấn thêm được rìa phía đông làng Quy Thuận. Sở chỉ huy Tiểu đoàn 4 vẫn trụ vững tại xóm 2 thôn này để chỉ huy chiến đấu. Kết quả là 860 tên địch chết và bị thương. Trung đoàn 41 và Trung đoàn 47 Ngụy bị tổn thất nặng nề, địch phải rút lực lượng này ra củng cố, đưa liên đoàn biệt động số 4 vào thay.
Hai tiếng “Quy Thuận” đã thành nỗi ám ảnh của kẻ thù.
Nắm chắc lực lượng địch, Trung đoàn 12 và Trung đội du kích tập trung của xã Hoài Châu do nữ đồng chí Bảy chỉ huy xốc lại đội hình, bổ sung vũ khí, củng cố lại hầm hào và nhanh chóng rút kinh nghiệm triển khai nhiệm vụ chiến đấu. Huyện ủy Hoài Nhơn cũng chỉ đạo các xã bắc Hoài Nhơn rút kinh nghiệm việc đấu tranh chính trị với địch để phối hợp với bộ đội chiến đấu và huy động dân công phục vụ chiến trường... Đầu tháng 11-1973, Liên đoàn biệt động số 4 địch bắt đầu mở màn cuộc tiến công nhưng bị D4 và D6 phục kịch đánh phủ đầu ở đông Quy Thuận và Gia An buộc chúng phải co cụm lại. Cuối năm đó trời mưa nhiều, nước từ đầu nguồn tràn về mênh mông trên các cánh đồng, bộ đội du kích ngày đêm dầm mình trong nước, trong mưa, tát nước và sửa chữa lại hầm hào. Đồng bào mang cánh cửa và tre gỗ cho bộ đội sửa chữa hầm, hào chiến đấu.
Những ngày cuối tháng 10 năm ấy là những ngày ảm đạm, nặng nề và hết sức căng thẳng đối với Liên đoàn biệt động số 4 Ngụy. Chúng đã ba lần thay đổi hướng đột phá, bắn hàng ngàn quả pháo cối. Mỗi ngày thường xuyên có từ 12 đến 18 chiếc xe tăng, xe bọc thép chi viện, dùng đủ các loại bom như bom đào, bom cháy, bom lân tinh...thế mà không chiếm được một tấc đất ở đây trước ý chí kiên cường bám trụ của quân và dân Hoài Nhơn mà điển hình là xã Hoài Châu. Trong các ngày đó, ngày nào cũng có hàng chục tên lính chết và bị thương vì kỹ thuật bắn tỉa của bộ đội ta, ngày nào cũng có lính bỏ ngũ hoặc chống lệnh hành quân. Rồi mưa lũ tràn về đã cuốn trôi hẳn một Đại đội của chúng ở Tân Thành. Đồng bào nói “tội ác của chúng Trời cũng không tha”. Gắn bó với mảnh đất Hoài Nhơn thân yêu và bất khuất, các chiến sỹ Trung đoàn 12 thấy mình có một nguồn sinh lực vô tận. Họ càng thấm sâu ý nghĩa câu nói “có dân là có tất cả”. Trong mấy tháng trời chiến đấu sau Hiệp định Paris là sự đối chọi giữa hai tư tưởng: địch quyết chiếm, ta quyết giữ. Cuối cùng thắng lợi đã thuộc về tay nhân dân và bộ đội ta. Trong chiến đấu xuất hiện nhiều gương tập thể và cá nhân chiến đấu dũng cảm như Đại đội trưởng Hoàng Văn Xoàng, chính trị viên Nguyễn Hữu Ba, chiến sỹ B41 Nguyễn Hồng Sánh, Trung đội 1, Đại đội 41, Trung đội du kích tập trung xã Hoài Châu. Đặc biệt tấm gương chiến đấu dũng cảm và chỉ huy gan dạ của chính trị viên Nguyễn Hữu Ba trên đường cầm quân chi viện cho chốt, anh bị mảnh đạn pháo địch cắm vào mắt không nhìn thấy gì, anh nhờ y tá băng bó và dìu ra trận địa, quyết không trở về trạm xá. Anh nói: “mắt không nhìn thấy nhưng tai còn nghe là còn chỉ huy được” và anh đã có mặt khi chốt của Đại đội gay go ác liệt nhất. Sự có mặt của Ba lúc đó thực sự là chỗ dựa tinh thần đối với chiến sỹ, truyền cho anh em sức mạnh đẩy lùi tất cả các đợt tấn công của địch, cùng các đơn vị bạn bảo vệ vững chắc trận địa được phân công.
Nếu như cuối năm 1972, ở Hoài Ân, Sư đoàn Sao vàng rút được kinh nghiệm trong chiến đấu phòng ngự ở vùng đồng bằng xen rừng núi thì ba tháng chiến đấu của Trung đoàn 12 và nhân dân bắc Hoài Nhơn đã thu được thắng lợi cả phòng ngự và tiến công, thắng lợi cả quân sự và chính trị ở vùng đồng bằng. Tại đây, bộ đội ta vận dụng khá linh hoạt chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt”, “tập kích hợp đồng binh chủng”. Điểm nổi bật ở đây là quân dân gắn bó mà biểu hiện là bộ đội du kích chiến đấu, nhân dân phục vụ chiến đấu rất nhịp nhàng. Có thể nói trên mảnh đất xã Hoài Châu này là một trong những điểm sáng của chiến tranh nhân dân thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
Năm tháng qua đi, những hình ảnh tuyệt vời về lòng dũng cảm, ý chí quật cường của một vùng đất quê dừa Bình Định – xã Hoài Châu vẫn mãi mãi chói sáng trong lòng cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn 3 Sao Vàng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn