Bài viết

“Hoan hô tinh thần đồng chí Hậu”

Tình cờ gặp ông trong đoàn CCB về thăm đơn vị cũ, chúng tôi được nghe những câu chuyện thú vị trong hành trình từ một anh lính công binh “bám đường, bám cầu mở đường thắng lợi” đi qua cuộc kháng chiến chống Mỹ với không ít lần “vào sống ra chết”, rồi trở thành người đứng đầu của một đơn vị chủ lực của bộ đội công binh...

Hà Tĩnh16/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tình cờ gặp ông trong đoàn CCB về thăm đơn vị cũ, chúng tôi được nghe những câu chuyện thú vị trong hành trình từ một anh lính công binh “bám đường, bám cầu mở đường thắng lợi” đi qua cuộc kháng chiến chống Mỹ với không ít lần “vào sống ra chết”, rồi trở thành người đứng đầu của một đơn vị chủ lực của bộ đội công binh. Câu chuyện dưới đây chỉ là một trong số rất nhiều kỷ niệm trân quý ấy của ông: Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Cao Văn Hậu, nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Công binh 229, Binh chủng Công binh.

Cuối năm 1971 rời đơn vị an dưỡng, tôi được điều về làm Tiểu đội phó Tiểu đội 1, Đại đội 4, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 229 công binh (nay là Lữ đoàn 229) đóng quân ở gần ga Yên Lạc, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi huấn luyện sơ bộ về kỹ thuật công binh, chúng tôi làm nhiệm vụ mở đường phía tây Quảng Bình (Đường 14) đi từ Đèo Khỉ qua đỉnh 1001 và tiếp tục mở qua phía tây Quảng Trị để chuẩn bị cho Chiến dịch 1972.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chúc mừng Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Cao Văn Hậu nhân dịp kỷ niệm 69 năm Ngày thành lập QĐND, tháng 12-2013. Ảnh do nhân vật cung cấp

Quá trình thi công địch liên tục bắn pháo hoặc ném bom vào những chỗ chúng nghi có bộ đội ta. Tôi không nhớ chính xác thời gian nhưng hôm đó vừa đi thi công đêm về hầm chuẩn bị ngủ, bỗng dưng cả khu vực trung đội bị loạt pháo bắn vào đội hình. Vừa dứt tiếng pháo, mọi người nháo nhác chạy đi tìm thì phát hiện đồng chí trung đội trưởng và cậu Hoa liên lạc hy sinh trong tư thế tức tưởi khiến cả trung đội không ai cầm được nước mắt. Chỉ mới hôm qua anh còn khoe nhận được thư của người thân...

Sau khi hoàn thành mở Đường 14, đến đoạn nối đường ta vào đường địch chưa mở, phải chờ chiến dịch khai hỏa mới được thông. Chúng tôi phải bí mật ngụy trang, che chắn bàn giao cho đơn vị khác bảo vệ rồi rút ra huyện Thạch Bàn, tỉnh Quảng Bình củng cố, bổ sung trang bị, khí tài và huấn luyện, diễn tập. 11 giờ trưa 30-3, Chiến dịch 1972 mở màn bằng các loạt pháo mặt đất. Chúng tôi nhanh chóng điểm hỏa bộc phá mở nốt đoạn đường cuối cùng nối đường ta vào Đường 9. Đơn vị được lệnh của mặt trận bảo đảm cho xe tăng lên đánh Căn cứ 241. Thế nhưng, cầu Đầu Mầu bị địch phá sập, buộc công binh phải nhanh chóng làm ngầm cho xe tăng lên đánh Cao điểm 241 trong khi pháo ta vẫn cứ bắn vào căn cứ địch. Làm ngầm xong, vừa đưa xe tăng lên qua Đường 9 khoảng một ki-lô-mét thì nghe tin trung đoàn địch chốt giữ Cao điểm 241 kéo cờ xin đầu hàng. Theo lệnh trên, chúng tôi tiếp tục tiến sâu vào phía trong Tây Nam khôi phục đường cũ, mở đường mới để bảo đảm cho xe tăng, pháo binh và các lực lượng bảo đảm tiến vào đánh căn cứ Ái Tử đồng thời xây dựng một số trận địa cho pháo binh cấp chiến dịch. Trên đường đi, khí thế của chiến dịch thắng lợi nên anh em rất vui vẻ, các lực lượng gặp nhau cười nói râm ran...

Khi vào tiến đánh căn cứ Ái Tử, đợt một chúng ta bị tổn thất lớn. Chiến dịch tạm dừng, rút ra ngoài củng cố, bổ sung và cuối tháng 4-1972 chiến dịch tiến đánh đợt hai. Tối 28 rạng ngày 29-4, đơn vị tôi dẫn xe tăng vào tiến đánh Ái Tử. Đến nơi sớm, phát hiện thấy xe ô tô và lực lượng của địch trong căn cứ rất rõ, nếu tiếp tục cơ động dễ bị địch phát hiện nên đơn vị xe tăng tạm dừng chờ trời tối mới vào tuyến. Xe tăng vừa dừng, lực lượng công binh chúng tôi ngồi trên xe nhanh chóng nhảy xuống triển khai phân tán đội hình chờ đợi. Tôi chui ngay vào gầm xe tăng do tổ tôi dẫn. Vừa chui vào ước chừng chỉ vài phút, bỗng dưng cả mặt đất rung chuyển, tối mù mịt, chớp lóe, tiếng nổ, tiếng đất đá rơi lịch bịch xung quanh. Tôi như tịt hẳn mũi, tai máu chảy, mắt rát rạt, ngực tức khó thở...

Rất may địch chỉ thả bom tọa độ chứ không phải đơn vị bị lộ. Tôi bò ra khỏi bụng xe sờ đầu, sờ thân thể, chân tay biết mình bị sức ép là chính, tự mình lau chùi tai, mũi và lắc mắt trong nước mang sẵn rồi cùng anh em cấp cứu cho thương binh để chuyển về sau cứu chữa. Lúc này, Trung đội trưởng Côi bị thương, anh Thú-Trung đội phó thay thế. Anh đến chỗ tôi ái ngại bảo: “Thôi Hậu lại bị thương nữa rồi, hãy quay ra điều trị đi. Nhưng Hậu đi bây giờ tổ trinh sát đường chỉ còn một, nhỡ bị nữa làm sao?”. Tôi suy nghĩ một lát rồi báo cáo tôi cố gắng được. Anh Thú reo lên: “Thế thì tốt rồi, mình cứ lo. Thôi quân y đâu, có thuốc gì hơn nữa không cho Hậu chóng khỏe nhé. Hoan hô tinh thần đồng chí Hậu”!

Tôi quay về xe do tổ tôi dẫn thì biết pháo thủ số 2 hy sinh, đơn vị không có người thay thế mà lệnh của trên vẫn tiếp tục triển khai tiến đánh Ái Tử. Trong lúc các đồng chí xe tăng còn lúng túng, tôi mạnh dạn hỏi nhiệm vụ của pháo thủ số 2, đề nghị các anh hướng dẫn cụ thể. Cái khó là khi đẩy quả pháo vào bầu nòng làm sao nhanh, mạnh, dứt khoát để bệ khóa khỏi đập vào tay nguy hiểm, biết phân biệt quả pháo nào là đạn xuyên, quả nào là đạn nổ để khi nghe hô lắp cho đúng, còn sử dụng kính ngắm cứ từ từ có pháo thủ số một nữa. Tập một lúc tôi thấy có thể làm được cũng vừa lúc có lệnh xuất phát. Lúc này, trời đã tối hẳn, việc dẫn đường thật vất vả. Nhưng do quá trình trước đó công binh chúng tôi đã chuẩn bị sẵn, đánh dấu đường vòng tránh cần thiết do vậy việc dẫn đường tương đối chính xác. Khi vào đến vị trí tập kết bàn giao cho bộ binh đảm nhiệm, công binh quay ra chờ nhiệm vụ khác riêng tôi tiếp tục cùng xe tăng tiến đánh căn cứ Ái Tử. Bước đầu tôi còn lúng túng, sau một hai loạt quen dần và thực hiện tốt vai của mình. Căn cứ Ái Tử được giải phóng, lực lượng ta tiếp tục truy kích rượt đuổi vào hết phần đất tỉnh Quảng Trị ở bắc sông Mỹ Chánh. Ngày 1-5-1972, tỉnh Quảng Trị được giải phóng. Tôi hoàn thành nhiệm vụ, được quay về đơn vị, nhận nhiệm vụ đi làm đường ở phía đông Quảng Trị phát triển vào Huế để chuẩn bị cho binh khí kỹ thuật cơ động. Triển khai chừng 10 ngày thì được lệnh dừng thi công, các đơn vị gần nhất, nhanh chóng cơ động xây dựng trận địa phòng ngự và cùng Trung đoàn 48 sau đó có lực lượng Sư đoàn 320, 325 chốt giữ Thành cổ Quảng Trị.

Ngày cuối cùng của tháng 6-1972, toàn đại đội hành quân cơ động vượt sông Thạch Hãn vào Thành cổ. Trung đội chúng tôi đi thẳng vào nhà thờ Tri Bưu và xây dựng công sự tại đây. Sau 6 ngày chúng tôi được lui về tiếp tục xây dựng giao thông hào chiến đấu và cùng bộ binh chốt giữ ngoài cửa Đông Bắc, đối diện tay phải là nhà thờ Tri Bưu. Người ta nói Thành cổ Quảng Trị là cối xay thịt, quả không sai chút nào. Cả thị xã Quảng Trị rộng khoảng 3 cây số vuông, khi chúng tôi vào chốt nhà hai ba tầng, đường đi lối lại còn nguyên vẹn. Nhưng sau 81 ngày đêm, thị xã và Thành cổ chỉ còn là đống gạch vụn, đổ nát tiêu tàn thật là khủng khiếp.

Chiến thuật của địch thực hiện luồn lách, lấn dần. Đến cuối tháng 7, gần như cả ba mặt thị xã địch chiếm, ta và địch ở thế cài răng lược. Chúng còn khích lệ nếu ai cắm được cờ ba que lên Thành cổ thì được lĩnh thưởng lớn. Một hôm, vừa bàn giao gác chuẩn bị ngủ thì tôi nghe tiếng đạp chân rất mạnh, liền nhổm dậy thấy thấp thoáng bóng quần áo rằn ri. Khoảng 4-5 tên địch đang leo từ hố bom này qua hố khác gần khu vực chốt của tổ tôi. Tôi liền hô anh em chuẩn bị chiến đấu. Khi bọn chúng vào hố gần nhất vừa tầm, anh em chúng tôi ném lựu đạn xuống rồi xung phong lên bằng súng AK: Tiêu diệt hai tên, bị thương một và bắt sống hai tên bàn giao cho bộ binh. Qua khai thác, chúng khai là định lợi dụng buổi mờ sáng sương chưa tan hết, bò lên cắm cờ.

Suốt thời gian chốt giữ Thành cổ, chúng tôi vừa tổ chức cơ động vật cản vừa cùng bộ binh tham gia đánh nhiều trận, ngăn chặn không cho địch chiếm thành. Trong quá trình chốt giữ đơn vị chúng tôi có nhiều tấm gương anh dũng như đồng chí Phúc-Tiểu đội trưởng ở Trung đội 3 bị thương lòi ruột vẫn tự tay ép bụng cùng bộ binh chiến đấu cho đến khi ngất đi; đồng chí Long là chiến sĩ nuôi quân đang đưa cơm ra, đến chiến hào thấy anh em bị thương trong khi địch đang tiến lên liền nhanh chóng dùng các loại vũ khí sẵn có của đồng đội chiến đấu...

Ngày 16-9, cấp trên thông báo nhiệm vụ chốt bảo vệ Thành cổ hoàn thành, các lực lượng còn lại rút khỏi thành. Lúc này, đại đội tôi nhìn lại chỉ còn 12 người, cơ bản đều bị thương nhưng người nào người nấy vẫn giữ chặt cây súng sẵn sàng nhận nhiệm vụ tiếp theo. Tổng kết chốt bảo vệ Thành cổ, cả đại đội gần như 100% được khen thưởng. Tôi được anh em bầu phiếu kín đề nghị cấp trên phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Khi nghe đài công bố chính thức tôi xúc động trào nước mắt, thầm cảm ơn anh em, đồng đội và tự hứa với lòng mình phải cố gắng hơn nữa...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn