Khác

HOÀNG CẦM CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 209

Hoàng Cầm (tên khai sinh Đỗ Văn Cầm, bí danh Năm Thạch), sinh năm 1920, tại xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội); Ông nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV, V, VI; Đại biểu Quốc hội khóa VII; nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân đoàn 4, Tư lệnh Quân khu 4, Tổng Thanh tra Quân đội.

31/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ông tham gia cách mạng năm 1945, là chiến sĩ Giải phóng quân Hà Nội; tháng 8/1945, ông nhập ngũ và tháng 2/1947 được kết nạp vào Đảng Cộng sần Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).

Từ tháng 10/1945 đến tháng 11/1946, ông là Tiểu đội trưởng; Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội phó thuộc Trung đoàn 97. Tháng 12/1946 đến tháng 2/1947, ông là Đại đội trưởng kiêm Chính trị viên Đại đội 120 Sơn La.

Tháng 3/1947 đến tháng 8/1954, ông là Chính trị viên Đại đội 590, Tiểu đoàn 18, Biên giới Lào - Việt; Đại đội trưởng Đại đội 250, Trung đoàn 97; Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 90 Xây dựng cơ sở ở Đà Bắc; Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312; Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209, Sư đoàn 312.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đêm mồng 6/5/1954, Trung đoàn của Hoàng Cầm đánh cứ điểm 507 không thành công. Ông cùng Chính uỷ Trần Quân Lập củng cố lại lực lượng, trực tiếp đề nghị Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho Trung đoàn đánh 507 vào ban ngày. Được pháo chi viện, Trung đoàn đã tiêu diệt 507, thừa thắng đánh chiếm các cứ điểm 508, 509. Nắm thời cơ quân địch hoang mang cực độ, Trung đoàn trưởng Hoàng Cầm ra lệnh cho Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật chỉ huy Đại hội 360 đánh thẳng vào Sở chỉ huy địch ở trung tâm Mường Thanh bắt sống tướng Đờ-cát-tơ-ri và Bộ tham mưu quân Pháp kết thúc thắng lợi chiến dịch.

Tháng 9/1954 đến tháng 8/1972, ông giữ các cương vị: Tham mưu trưởng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312; Học viên Học viện quân sự Bắc Kinh; Phái viên Tác chiến Bộ chỉ huy quân sự Miền; Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9; Phái viên Bộ Tổng tư lệnh Miền; Tham mưu phó, Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Miền.

Tháng 9/1972 đến tháng 12/1974, ông là Chỉ huy phó Bộ chỉ huy quân sự Miền phụ trách Chỉ huy trưởng Đoàn 301, B2; Chỉ huy trưởng Đoàn 301, B2; từ tháng 1/1975 đến tháng 2/1977 là Tư lệnh Quân đoàn 4; tháng 3/1977 đến tháng 1/1981 là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân đoàn 4; từ tháng 2/1981 đến tháng 3/1982 là Phó Tư lệnh Bộ đội Việt Nam tại Campuchia; từ tháng 4/1982 đến tháng 8/1987 là Tư lệnh Quân khu 4. Đồng chí là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV, V, VI. Đại biểu Quốc hội khóa VII.
Tháng 9/1987, ông được điều động về Tổng Thanh tra Quân đội và được Chính phủ bổ nhiệm Tổng Thanh tra Quân đội (nay là Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng).

Ông được phong quân hàm cấp Thượng tá vào tháng 8/1958; thăng quân hàm Đại tá năm 1960, Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1980, Thượng tướng năm 1984. Tháng 11/1992, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Từ một chiến sĩ chiến đấu và trưởng thành lên đến cấp Thượng tướng, ông đã lập nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, 4 Huân chương Quân công và nhiều huân, huy chương khác. Huân chương Hồ Chí Minh là huân chương bậc cao dành cho những người có công lao to lớn với Tổ quốc.

Ông mất hồi 14 giờ 30 phút ngày 19/8/2013, tại Bệnh viện Quân y 175.

Logged

hoi_ls

Thượng tá
*
Bài viết: 5148


Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ« Trả lời #22 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2020, 10:35:36 am »
VŨ LĂNG
CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 98



Vũ Lăng tên thật là Đỗ Đức Liêm, sinh năm 1921 tại xã Ngũ Hiệp, Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Ông là một trong những vị tướng lập được nhiều chiến công lớn trong những trận đánh quan trọng của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông là người đã có công lao to lớn trong chiến thắng của chiến dịch Tây Nguyên mà trận Buôn Ma Thuột là điển hình. Ông còn là Giáo sư Khoa học Quân sự, nguyên Viện trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân Đà Lạt, Nguyên Tư lệnh Binh đoàn Tây Nguyên và Phó Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, nguyên Cục trưởng Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ông là một trong những chiến sĩ Nam tiến đầu tiên chiến đấu ở mặt trận Nha Trang - Ninh Hòa. Sau đó ông ra Bắc, vào ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Vũ Lăng là quyết tử quân của trung đoàn Thủ Đô, tham gia chiến đấu bảo vệ Bắc Bộ Phủ.

Qua 60 ngày đêm cảm tử, Vũ Lăng lúc này là tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 103, đã trực tiếp chỉ huy một trung đội đánh vào nhà Sô-va làm hơn 40 địch chết, bị thương, được Tổng chỉ huy điện khen.

Trong chiến dịch Thu - Đông 1947, Tiểu đoàn 103 đã tham chiến chặn địch rất hiệu quả: đánh binh đoàn Bô-phrê 7 trận trong 12 ngày trời, dưới hình thức vận động tiêu diệt.

Chiến dịch Đông Xuân 1948-1949, Vũ Lăng chỉ huy Tiểu đoàn 54, đánh thắng các trận Đại Bạc, Bồng Lai...

Sau những ngày ở Trung đoàn 102 - Trung đoàn Thủ đô, một thành viên của Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong, ông được điều sang chỉ huy Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 sau này.

Trung đoàn 98 lúc ông sang chỉ huy, vừa chịu tổn thất ở Bắc Ninh. Ông cùng cán bộ, chiến sĩ củng cố đơn vị, đánh thắng giòn giã ở Bản Mo trong chiến dịch Tây Bắc.

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Đại đoàn 316 ở phía Đông của tập đoàn cứ điểm. Trung đoàn 98 do Vũ Lăng chỉ huy đánh cứ điểm C1. Cuộc chiến đấu giành giật chiếm giữ đồi C1 diễn ra trong 31 ngày đêm ác liệt trên từng tấc đất. Trung đoàn 98 có một đại đội súng cối và DKZ yểm trợ và... 30 trái pháo.

Trận đồi C1 từ 30/3 đến 1/51954 là trận tiến công, đối phương lúc đầu có 1 đại đội và 1 trung đội. Vào lúc 18h ngày 30/3, trung đoàn 98 tiến công, sau 45 phút chiếm được cứ điểm, diệt toàn bộ quân địch.

Sáng 1/4 , Pháp đưa 1 tiểu đoàn tới phản kích, kết hợp dùng pháo bắn ác liệt gây thương vong cho ta. Hai bên giành giật nhau từng vị trí đến 17h cùng ngày, địch bị đẩy lùi.

Ngày 9/4, quân Pháp được tăng cường 1 tiểu đoàn dù tiếp tục phản kích và sau 4 ngày đêm chiến đấu, chiếm được phía Tây. Vũ Lăng cùng tập thể Ban chỉ huy và toàn thể cán bộ chiến sĩ tổ chức phòng ngự giữ vững nửa phía Đông, đến đêm 1/5 chuyển sang phản công giành lại toàn bộ C1. Thắng lợi này tao điều kiên cho lưc lượng trên toàn bộ chiến dịch, khép chặt vòng vây, uy hiếp Mường Thanh và chuyển sang tổng công kích giành thắng lợi.

Có được chiến thắng ở cứ điểm C1, ông đã tích lũy kinh nghiệm và giàu sáng tạo từ nhiều trận trước. Đó là những ngày chỉ huy trung đoàn 98 sang Thượng Lào, Luông Pha-băng, Sầm Nưa.

Chiến thắng C1 là bước trưởng thành vượt bậc của Trung đoàn 98 (được Tư lệnh Mặt trận tặng Huân chương Quân công hạng Ba) còn Vũ Lăng nhanh chóng tổng kết bắn cối (12 khẩu của toàn trung đoàn) để phá hàng rào, lô cốt giúp trên phổ biến kinh nghiệm cho đơn vị bạn.
Trong kháng chiến chống Mỹ, Vũ Lăng đã giữ những chức vụ quan trọng trong quân đội như Tham mưu trưởng Sư đoàn 316 rồi Cục phó Cục khoa học Quân sự Bộ tổng Tham mưu, phó Tư lệnh quân khu 4, Cục phó rồi Cục trưởng Cục tác chiến, Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, Phó Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên rồi tư lệnh quân đoàn 3.

Trên cương vị là Cục trưởng Cục tác chiến bộ tổng tham mưu, rồi là Tư lệnh mặt trận Tây nguyên và Phó Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, Vũ Lăng đã xây dựng phương án tác chiến, tham mưu chỉ huy và đã giành được thắng lợi trong trận Buôn Ma Thuột giải phóng Tây Nguyên, tạo ra bước đột phá quan trọng trong việc thống nhất Việt Nam. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, mùa xuân năm 1975, ông là tư lệnh Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) đảm nhiệm hướng Tây Bắc, là tấn công chủ yếu của chiến dịch, tiêu diệt Sư đoàn 25 của Quân lực Việt Nam Cộng hoà, sau đó tiếp tục đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu ngụy. Quân đoàn 3 dưới sự chỉ huy của ông đã nhanh chóng bao vây chia cắt, đập tan mọi sự kháng cự của Sư đoàn 25 quân đội Việt Nam Cộng hòa, là quân đoàn đầu tiên đặt chân đến cửa ngõ Sài Gòn và vào ngày 30/4/1975 đã giương cao lá cờ của quân đoàn trên nóc tòa nhà bộ tư lệnh không quân và Bộ Tổng tham mưu của quân đội Sài Gòn.

Do những công lao trong 2 cuộc kháng chiến, Thượng tướng Vũ Lăng đà được thưởng nhiều huân chương cao quý: Huân chương Độc lập hạng Nhất; Ba huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Ba); Huân chương Chiến thắng hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Ba huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba); Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Ông mất năm 1988.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn