Hoàng Đan - Một tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam
Hoàng Đan (28 tháng 2 năm 1928 – 4 tháng 12 năm 2003) là một tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam với quân hàm Thiếu tướng. Ông đã tham gia cả hai cuộc kháng chiến của dân tộc đó là kháng chiến chống Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979. Ông là 1 trong 4 vị danh tướng tài ba, lỗi lạc "nhất Tấn nhì An tam Đan (ông) tứ Chơn" dưới thời Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền.
Hoàng Đan (28 tháng 2 năm 1928 – 4 tháng 12 năm 2003) là một tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam với quân hàm Thiếu tướng. Ông đã tham gia cả hai cuộc kháng chiến của dân tộc đó là kháng chiến chống Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979. Ông là 1 trong 4 vị danh tướng tài ba, lỗi lạc "nhất Tấn nhì An tam Đan (ông) tứ Chơn" dưới thời Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền.
Hoàng Đan sinh ngày 28 tháng 02 năm 1928 tại xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong một gia đình có truyền thống quân sự lâu đời, nhiều thế hệ đỗ đạt ra làm quan võ, làm thầy thuốc. Theo gia phả họ Hoàng ông là hậu duệ đời thứ 21 của danh tướng đời nhà Trần Hoàng Tá Thốn, hiệu Sát Hải đại Vương; hiện ở huyện Yên Thành vẫn còn đền thờ. Thân sinh của ông là Hoàng Văn Hệ; mẹ là Đặng Thị Ngung, sinh được 7 người con, hai trai năm gái. Ông là con thứ tư đồng thời là con trai út, cũng là người con duy nhất trong gia đình trước cách mạng được theo học từ trường xã đến tỉnh, trước khi Mỹ ném bom nhà máy xe lửa Trường Thi tháng 11 năm 1943 buộc ông phải nghỉ học ở năm thứ 3 trung học cơ sở.
Cả gia đình họ Hoàng (họ ông nội) và họ Trần (họ bà nội) ông đều có nhiều người tham gia cách mạng. Chú họ ông, Hoàng Văn Tâm, bí thư đầu tiên huyện uỷ Nghi Lộc bị địch bắn chết năm 1931; chú ruột, Hoàng Văn Mỹ, bị bắt năm 1930 đày lên Kon Tum đến khi phong trào bình dân lên cầm quyền ở Pháp mới được tha về.Tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp. Qua sự giới thiệu của chú và anh (anh trai của ông bị tù năm 1941, sau khôi phục làm chính quyền địa phương và vào bộ đội), ông tham gia vào mặt trận Việt Minh, theo truyền thống của gia đình. Tại cuộc họp cán bộ Việt Minh tỉnh Nghi Lộc để bầu ban chấp hành lâm thời mặt trận Việt Minh huyện, ông và Hoàng Niệm (sau là tư lệnh bộ đội thông tin) tuy là thành viên mới nhưng cũng được bầu làm uỷ viên uỷ ban chấp hành huyện. Tháng 6 cùng năm đó, ông được cử về tổng Vân Trình phụ trách tổ Việt Minh của tổng và việc tổ chức các tổ Việt Minh ở xã.
Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra tại huyện, một cuộc mít tinh lớn đã được nổ ra để ra mắt chính quyền cách mạng, Hoàng Đan dẫn đầu đoàn quần chúng tổng Vân Trình về dự mít tinh. Đến tháng 11, ông được triệu tập vào ban tuyên truyền tỉnh bộ Việt Minh bổ sung vào đoàn tuyên truyền lưu động. Đầu năm 1946, ông được cử đi học trường quân sự quân khu mới mở ở Nhượng Bạn, Hà Tĩnh và sau khi ra trường, ông về hoạt động ở tiểu đoàn tiếp phòng quan Đông Hà (Quảng Trị) thuộc trung đoàn tiếp phòng quân đóng ở Bình-Trị-Thiên lúc bấy giờ.
Tháng 10 năm 1946, dưới sự giới thiệu của Hoàng La và Trần Văn Quang, Hoàng Đan đã được công nhận chính thức là một thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Công việc của ông lúc này là liên chi ủy viên tiểu đoàn - bí thư chi bộ, đồng thời cũng là chính trị viên của đại đội 2 - nơi ông nhận công tác.
Ở Quảng Trị, nơi ông đóng quân, cho đến đầu năm 1947 vẫn chưa bước vào chiến đấu. Đến giữa năm 1947, địch bắt đầu từ Lào đánh theo đường số 9 tiến về Đông Hà và một cánh quân từ Huế theo đường số một tiến đánh Quảng Trị. Trong khoảng thời gian địch vây đánh Đông Hà này, ông đã tham gia và chiến đấu không ít trận đánh như trận đánh địch từ Cam Lộ về Đông Hà, trận phục kích chống càn ở nam Vĩnh Linh.
Trong Kháng chiến chống Pháp, ông đã từng kinh qua các cấp như
· 02/1946-10/1946: Trung đội trưởng, Trung đội 2, Đại đội 2, Tiểu đoàn tiếp phòng quân Đông Hà, Trung đoàn tiếp phòng quân Bình Trị Thiên
· 10/1946-01/1947: Chính trị viên đại đội 2, Tiểu đoàn tiếp phòng quân Đông Hà, Trung đoàn tiếp phòng quân Bình Trị Thiên
· 01/1947-11/1947: Trung đội trưởng, Trung đội 2, Đại đội 2, Tiểu đoàn 15, Trung đoàn 95
· 11/1947-05/1949: Đại đội trưởng, Đại đội 2, Tiểu đoàn 15, Trung đoàn 95
· 05/1949-11/1949: Quyền Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 310, Trung đoàn 95
· 11/1949-11/1952:Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 95, Đại đoàn 304
· 11/1952-10/1953: Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn Lê Lợi, Trung đoàn 66, Đại đoàn 304
· 10/1953-05/1954: Trung đoàn phó, Trung đoàn 57, Đại đoàn 304[1]
Các trận đánh và chiến dịch ông đã từng trực tiếp tham gia hoặc chỉ huy:
· Trận đánh địch từ Cam Lộ tiến về Đông Hà
· Trận ngăn chặn địch ở Gio Linh và đánh quận lỵ Gio Linh
· Trận phục kích tàu địch trên sông Đông Hà
· Trận phục kích chống càn ở nam Vĩnh Linh
· Chiến dịch Hòa Bình
· Chiến dịch Thu đông 1952
· Chiến dịch Thượng Lào
· Chiến dịch Điện Biên Phủ



