Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Hoàng Diệu

Hoàng Diệu tên thật là Hoàng Kim Tích , sau mới đổi là Hoàng Diệu , tự là Quang Viễn , hiệu Tỉnh Trai . Ông sinh ngày 10 tháng 2 năm Kỷ Sửu 14 tháng 3 năm (1829), ở một gia đình có truyền thống nho giáo tại làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, Tỉnh Quảng Nam (nay là thị xã Điện Bàn , Tỉnh Quảng Nam 1 ). Gia đình ông có 7 anh em và họ đều nổi tiếng là những người thông minh trong vùng. Biên dịch rằng gia đình Hoàng Diệu có một đỗ đỗ bảng, ba đỗ cử nhân, hai người tú tài trong các kỳ thi dưới thời vua

Đà Nẵng30/04/2026https://donglichsu.com.vn/hoang-dieu (https://donglichsu.com.vn/hoang-dieu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Hoàng Diệu

Sự kiện

Hoàng Diệu là người nổi bật nhất trong số các anh em trong gia đình. Năm 20 tuổi ông đã đồng đỗ Cử nhân với anh trai Hoàng Kim Giám (khi tuổi 23 tuổi) khoa Mậu Thân (1848) trong khoa thi Hương tại Thừa Thiên, năm 25 tuổi đỗ Phó bảng khoa Quý Sửu (1853), thời vua Tự Đức 2 . Năm 1851 , ông được vua Tự Đức bổ sung nhiệm làm Tri huyện Tuy Phước rồi Tri phủ Tuy Viễn (Bình Định).

Năm 1864, xảy ra vụ nổi dậy của Nguyễn Phúc Hồng Tập, con hoàng thân Miên Áo, em chú bác của Hồng Nhậm (tức vua Tự Đức), cùng với nhiều người khác. Hiển lộ, Hồng Tập và Nguyễn Văn Viện bị chém. Hoàng Diệu đến chức năng Tri huyện Hương Trà thay Tôn Thất Thanh bị biến đổi đi nơi khác, bấy giờ có mặt trong lúc hành quyết đã nghệ Hồng Tập nói: "Vì tức giận về hòa đề nghị mới bị kiện, xin thu gọn vào phản phản nghịch". Sau đó các quan Phan Huy Kiệm, Trần Gia Huệ và Biện pháp Vĩnh tâu lên Tự Đức, đề nghị nhà vua nên theo gương Hán Minh Đế, thẩm tra lại nhiệm vụ. Tự Đức Thẩm phán là nhiệm vụ đã được đình thần thẩm phán kỹ năng, nay nghe Phan Huy Kiệm nói Hoàng Diệu đã kể lại lời trăng trối của Hồng Tập, liền quyết định giáng chức Phan Huy Kiệm, Trần Gia Huệ, Biện Vĩnh và Hoàng Diệu 3 .

Được phục vụ sau "tẩy oan" Hồng Tập, Hoàng Diệu lần đầu ra Bắc năm 1868, làm Tri phủ Đa Phúc, rồi Tri phủ Lạng Giang (Bắc Giang), Án sát Nam Định, Bố chính Bắc Ninh. Trong chín năm ấy, ông lập nhiều quân công, dẹp cướp và an dân, ở đâu ông cũng được sĩ dân du khách.

Năm 1873 ông được triệu về kinh đô Huế giữ chức năng Tham tri Bộ Hình rồi Tham tri Bộ Lại, mận quản Đô Sát Viện, dự phòng những công việc ở Cơ Mật Viện. Năm 1878, đổi làm Tuần phủ Quảng Nam, thăng Tổng Giám đốc An Tịnh (Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay), nhưng vì nguyên Tổng Đốc Nguyễn Chính vẫn lưu nhiệm nên ông ở lại Huế, làm Tham tri Bộ Lại (Thực lục của Cao Xuân Dục). Tuyết bao lâu sau, ông được hát chức Phó Toàn quyền Đại Thần đàm phán với Sứ thần Tây Ban Nha một hiệp ước giao thương. Đầu năm 1880, ông làm Tổng Giám đốc Hà Ninh, lãnh đạo chức năng Thượng thư bộ Bình 2 , sâu quản lý công việc thương mại chính.

Biết rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp lúc bấy giờ, Hoàng Diệu bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị chiến đấu, kinh lý, biên phòng. Như Đại Nam chính biên giới truyện đã nêu, tổng giám đốc Hà Ninh đã "cùng với tổng giám đốc tỉnh Tây Nguyên Nguyễn Hữu Độ cung cấp việc làm bố trí phòng, lại cùng với Nguyễn Đình Nhuận mật tâu về phòng trống sẵn có". Vua Tự Đức Khen. " Nhưng sau đó - như trong di biểu nêu - vua lại tinh tinh lưu binh... vì sợ giặc"... " chế ngự không đúng cách" (?)

Một mặt khác, Hoàng Diệu quan tâm ổn định chăm lo đời sống của dân chúng trong công bằng và trật tự. Ngày nay, ở Ô Quan Chưởng, đầu phố Hàng Chiếu, còn lại áp dụng ở mặt tường chỉ đạo ( Thân khu tam), năm 1881, của Tổng giám đốc Hà Ninh Hoàng Diệu và phủ Hà Nội Hoàng Hữu Xứng, hãy cùng các bên ma chay, xin cấm cũng như các tiền, theo các quy định Một di tích quý hiếm nói lên tấm lòng ưu ái của người công bạo mãi mãi nhưng giá trị của nó.

Từ 1879 đến 1882, Ông làm Tổng Giám đốc Hà Ninh quản lý vùng trọng yếu nhất của Bắc Bộ là Hà Nội và phụ cận. Ông đã chỉ đạo quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng. Ngày 25 tháng 4 năm 1882 (tức là ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ), thành Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu đã tự động vẫn ở Võ Miếu để không rơi vào tay đối phương.

Người Hà Nội vô cùng đau đớn trước cái chết của ông, ngay hôm nay sau, nhiều người xem lại, mua sửa mền nệm tử tế, rước quan tài của Hoàng Diệu từ trong thành ra, tổ chức khâm liệm và mai táng tại khu vườn Dinh Đốc học (nay là địa điểm khách sạn Royal Star ở đường Trần Quý Cáp chợ Ngô Sĩ Liên , sau ga Hà Nội).

Hơn một tháng sau hai người con trai ông ra Hà Nội lo liệu đưa thi hài thân sinh về an táng ở quê quán vào mùa thu năm ấy.

Khu lăng lăng Hoàng Diệu, theo quyết định ngày 25 tháng 1 năm 1994 của Bộ Văn hóa Thông tin, được công nhận là một di tích lịch sử - văn hóa của Việt Nam.

quyết tử với Hà thành

Năm 1873, sau khi sử dụng được Nam Bộ, Pháp chuẩn bị tiến ra Bắc Bộ. Vua Tự Đức giao phó cho Hoàng Diệu làm Tổng Giám đốc Hà Ninh. Ngay khi tới Hà Nội, Hoàng Diệu đã chú ý tới việc xây dựng năng lượng tích lũy để chống Pháp. Từ năm 1880 đến 1882, ông đã hai lần dâng hiến sớ xin triều đình chi viện để củng cố phòng tuyến chống giặc tại Hà Nội, nhưng không được thu hồi âm từ Huế.

Đầu năm 1882, thu hồi Việt Nam không tôn hiệp hiệp ước năm 1873 mà lại đi giao giáp với Trung Hòa, dung túng quân Cờ Đen (một nhánh quân của Thái Bình Thiên Quốc) phân rã giao thông trên sông Hồng của người Pháp, Đại tá Henri Rivière của Hải quân Pháp cho tàu chiến cùng hơn 400 quân đóng tại Đồn Thủy (trên bờ sông Hồng , cách thành phố Hà Nội 5 km) uy Hà Nội. Hoàng Diệu đã hạ lệnh hạn chế tử vong tại Hà Nội và bố trí các tỉnh xung quanh sẵn sàng hoạt động, đồng thời yêu cầu viện binh từ triều đình Huế.

Tuy nhiên phái chủ thất của triều đình Huế đã thuyết phục vua Tự Đức chấp nhận mất miền Bắc để giữ toàn cho ngai vàng. Vua Tự Đức đã hạ chiếu quở trách Hoàng Diệu đã cung cấp binh khó giặc và chế ngự sai đường. Nhưng Hoàng Diệu đã quyết định sống chết với thành Hà Nội . Các quan xung quanh ông Hoàng Diệu lúc bấy giờ có tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, Đề đốc Lê Văn Trinh, Bố chính Phan Văn Tuyển, Án sát Tôn Thất Bá và Lãnh binh Lê Trực cùng nhau uống rượu hòa huyết phát quyết tâm sống chết với Hà thành.

Quân Pháp tấn công thành Hà Nội

Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882, tức ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ, Henri Rivière cho tàu chiến áp sát thành Hà Nội , đưa tối hậu thơ, yêu sách ba điều:

  • Phá vỡ các hoạt động của phòng thủ trong thành phần.

  • Giải giới binh pháp.

  • Đúng 8 giờ các văn bản võ thuật ở thành phố Hà Nội phải có giao diện với Henri Rivière. Sau đó, quân Pháp sẽ được kiểm tra. Xong sẽ được trả lại.

  • Hoàng Diệu tiếp tối hậu thư, liền sai Tôn Thất Bá đi điều đình. Nhưng không chờ đợi câu trả lời, lúc 8 giờ 15, Rivière với 4 tàu chiến là La Fanfare , La Massue , La Hache , La Sur ngạc nhiên (tàu này không đáp ứng tới, vì ngòi câu dọc đường Hải Phòng đi Hà Nội) bắn vào thành điểm hỗ trợ cho số quân 450 người và một ít thân binh biến bộ cầu sử dụng thành Hà Nội 3 .

    Ngay trong những phút đầu tiên, hoàng thân Tôn Thất Bá chạy trốn vào làng Mộc ở phía Đông Nam Hà Nội theo Pháp và thông báo tình hình ở thành Hà Nội cho họ. Đồng thời, Bá cũng dâng sớ lên vua Tự Đức đổ tội cho Hoàng Diệu và xin với Pháp cho Bá thay làm Tổng Giám đốc Hà Ninh.

    Tuy nhiên, quân pháp vẫn phải khả năng kháng cự quyết định của quân dân Hà thành dưới sự chỉ huy của Hoàng Diệu 4 . Quân Pháp bị thiệt hại nặng nề và phải rút ra ngoài tầm súng để củng cố năng lượng.

    Nhưng trong lúc chiến đấu diễn ra khốc liệt thì kho thuốc súng của Hà Nội nổ tung 5 , Việt gian mua Võ bởi bọn Pháp làm. Một số nhà sử học mong đợi rằng nó liên quan tới phản thần thoại Tôn Thất Bá. 4 hướng dẫn tới đám cháy lớn trong thành công cho quân đội hoàng mang. Quân Pháp thừa cơ hội được cổng Tây thành Hà Nội và mùa vào thành. Bố chính Nguyễn Văn Tuyển, Đề Đốc Lê Văn Trinh và các lãnh chúa bỏ thành chạy, còn Tuần phủ Hoàng Hữu X tranh trốn trong hành cung.

    Trong tình thế tuyệt vọng, Hoàng Diệu vẫn tiếp tục bình tĩnh dẫn đầu quân sĩ chiến đấu chống lại quân Pháp dù lực lượng ngày càng yếu đi, không thể giữ được thành công nữa. Cuối cùng, Hoàng Diệu đã ra lệnh cho bệnh lý giải tán để tránh thương vong. Một mình Hoàng Diệu vào hành cung, thảo lá di biểu tượng, rồi ra trước Võ mi thiếu dùng khăn bịt đầu hoa cổ tự tử, hưởng dương 54 tuổi.

    Yên di biểu, ông ngón tay lấy máu viết biểu tạ tội cho vua Tự Đức:

    Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương vạn, huyết trùng trùng hàng... 6 .

    Ông mất ngày 25 tháng 4 năm 1882, thọ 54 tuổi.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn