Hoàng Đình Hợp – người chỉ huy đi qua ba chiến trường và trận đánh cuối ở Hai Bản
Từ một chiến sĩ nhập ngũ trong kháng chiến chống Pháp, Hoàng Đình Hợp đã đi qua các chiến trường Tây Bắc, Lào và biên giới Tây Nam. Tháng 8/1978, ông chỉ huy đơn vị đánh chiếm khu Hai Bản, thu toàn bộ vũ khí của đối phương rồi hy sinh trong trận đánh cuối cùng.
Mùa thu năm 1975, đất nước vừa thống nhất. Sau hơn ba mươi năm chiến tranh, nhiều người lính có quyền nghĩ tới ngày trở về. Nhưng với Hoàng Đình Hợp, con đường quân ngũ vẫn chưa kết thúc. Từ những dãy núi Cao Bằng, qua chiến trường Tây Bắc và Cánh đồng Chum của nước bạn Lào, ông tiếp tục đi về phương Nam, nơi một cuộc chiến bảo vệ biên giới mới đang hình thành.
Hoàng Đình Hợp sinh năm 1930 trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Tuổi trẻ của ông trôi qua giữa những năm quê hương trở thành chiến trường của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông tham gia hoạt động Việt Minh tại địa phương rồi nhập ngũ vào khoảng năm 1949–1950.
Từ một chiến sĩ bình thường, Hoàng Đình Hợp trưởng thành qua từng trận đánh. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia chiến đấu tại Cao Bằng và mặt trận Tây Bắc. Những năm sau đó, ông cùng lực lượng quân tình nguyện Việt Nam sang Lào, sát cánh với quân đội Pa Thét Lào và nhân dân các bộ tộc Lào.
Mùa thu năm 1966, Trung đoàn 866 được thành lập từ những phân đội quân tình nguyện đã có nhiều kinh nghiệm chiến đấu tại Cánh đồng Chum. Hoàng Đình Hợp gắn bó lâu dài với đơn vị này, từ một người trực tiếp cầm súng trở thành cán bộ chỉ huy. Tư liệu của tỉnh Cao Bằng ghi nhận ông đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy trong hàng trăm trận, trải qua cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Hoàng Đình Hợp được giao chỉ huy Trung đoàn 866 thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế tại An Giang, đồng thời bảo vệ vùng biên giới Tây Nam. Nhưng hòa bình ở nơi đây không kéo dài. Quân Khmer Đỏ liên tiếp tiến hành những cuộc xâm nhập, sát hại người dân và lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam.
Tháng 11/1977, khi một lực lượng lớn của đối phương tiến công qua biên giới, Hoàng Đình Hợp chỉ huy đơn vị chiến đấu ngăn chặn. Tại vùng Bảy Núi của An Giang, Trung đoàn 866 đánh lui các đợt tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm quân đối phương và thu nhiều vũ khí, đạn dược.
Đối với Hoàng Đình Hợp, đây là một chiến trường rất khác Cánh đồng Chum. Trước mặt đơn vị không còn chỉ là những vị trí quân sự đơn thuần. Phía sau mỗi chốt phòng thủ là làng xóm, ruộng đồng và tính mạng của người dân vùng biên. Nếu người lính lùi lại, người dân sẽ là những người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả.
Tháng 3/1978, Hoàng Đình Hợp nhận nhiệm vụ chỉ huy Trung đoàn 866 đánh vào khu hậu cứ Phun Xăm, phối hợp với lực lượng của Sư đoàn 320A. Đơn vị phải liên tiếp chống lại ba đợt phản kích của Sư đoàn 42 Khmer Đỏ. Theo tư liệu của Báo Cao Bằng, Trung đoàn 866 đã giữ vững trận địa, gây thiệt hại nặng cho đối phương và thu nhiều vũ khí. Sau những thành tích chiến đấu ấy, Trung đoàn 866 được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Đến tháng 8/1978, mặt trận biên giới Tây Nam bước vào một giai đoạn đặc biệt quyết liệt. Khi đó, Hoàng Đình Hợp mang quân hàm thiếu tá và giữ chức Phó tham mưu trưởng Sư đoàn 31. Dù đã là cán bộ tham mưu cấp sư đoàn, ông vẫn trực tiếp có mặt tại khu vực chiến đấu.
Mục tiêu lần này là căn cứ Hai Bản của đối phương.
Hoàng Đình Hợp tổ chức và chỉ huy đơn vị tiến công vào căn cứ. Trận đánh kết thúc với hơn một trăm quân đối phương bị loại khỏi vòng chiến đấu; toàn bộ vũ khí, trang bị tại căn cứ bị thu giữ. Nhưng người chỉ huy đã không trở về. Ông hy sinh ngay trong trận đánh, khép lại gần ba mươi năm liên tục chiến đấu và phục vụ trong quân đội.
Nếu tính từ ngày nhập ngũ, Hoàng Đình Hợp đã dành gần trọn cuộc đời trưởng thành của mình cho các chiến trường. Khi mới vào quân đội, ông là một thanh niên miền núi chưa đầy hai mươi tuổi. Khi hy sinh, ông đã 48 tuổi, là thiếu tá, Phó tham mưu trưởng một sư đoàn và là người chỉ huy dày dạn kinh nghiệm. Giữa hai cột mốc ấy là Cao Bằng, Tây Bắc, Cánh đồng Chum, An Giang và mặt trận biên giới Tây Nam.
Ông được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, ba Huân chương Chiến công Giải phóng, Huân chương Chiến thắng hạng Ba cùng nhiều phần thưởng khác. Ngày 28/8/1981, Hội đồng Nhà nước truy tặng liệt sĩ Hoàng Đình Hợp danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Câu chuyện của Hoàng Đình Hợp nhắc chúng ta rằng ngày 30/4/1975 không phải thời điểm mọi người lính đều có thể đặt súng xuống. Khi đất nước vừa bước ra khỏi một cuộc chiến kéo dài, nhiều người lại phải lên đường bảo vệ những đường biên. Hoàng Đình Hợp là một trong số đó. Ông đã đi gần suốt chiều dài của ba cuộc chiến và dừng lại tại Hai Bản, trong trận đánh mà người chỉ huy vẫn đứng ở nơi gần nhất với hiểm nguy.



