Khác

Hoàng Hoa Thám (1858 – 1913), danh xưng tôn kính là Đề Thám hay "Hùm xám Yên Thế",

Hoàng Hoa Thám (1858 – 1913), danh xưng tôn kính là Đề Thám hay "Hùm xám Yên Thế", là một trong những nhà lãnh đạo nghĩa quân kiệt xuất nhất trong phong trào chống thực dân Pháp của dân tộc ta vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Ông chính là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Yên Thế – cuộc khởi nghĩa vũ trang nông dân có quy mô lớn nhất, bền bỉ nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam.

Bắc Ninh14/08/2026Nguyễn Thị Thu Liễu (Hàm Tân)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Hoàng Hoa Thám (1858 – 1913), danh xưng tôn kính là Đề Thám hay "Hùm xám Yên Thế",

Hoàng Hoa Thám (1858 – 1913), danh xưng tôn kính là Đề Thám hay "Hùm xám Yên Thế", là một trong những nhà lãnh đạo nghĩa quân kiệt xuất nhất trong phong trào chống thực dân Pháp của dân tộc ta vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Ông chính là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Yên Thế – cuộc khởi nghĩa vũ trang nông dân có quy mô lớn nhất, bền bỉ nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam.

a17.jpg

Sinh ra tại vùng đất Hưng Yên nhưng lớn lên tại Bắc Giang, Hoàng Hoa Thám sớm chứng kiến cảnh nước mất nhà tan. Khi thực dân Pháp mở rộng bờ cõi xâm lược lên vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, ông đã tham gia vào các toán nghĩa quân địa phương. Sau khi thủ lĩnh Lương Văn Nắm (Đề Nắm) bị sát hại vào năm 1892, Hoàng Hoa Thám chính thức trở thành thủ lĩnh tối cao, gánh vác sứ mệnh chèo lái phong trào kháng Pháp tại vùng rừng núi Yên Thế.

Dưới sự chỉ huy thiên tài của Đề Thám, nghĩa quân Yên Thế đã xây dựng một hệ thống đồn lũy vững chắc và áp dụng chiến thuật chiến tranh du kích một cách bậc thầy. Dựa vào địa hình rừng núi hiểm trở, "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh", nghĩa quân đã bẻ gãy hàng loạt trận càn quét quy mô lớn của thực dân Pháp, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về sinh lực. Sự mưu trí, dũng cảm và lối đánh "xuất quỷ nhập thần" của ông đã khiến kẻ thù phải khiếp sợ, phong cho ông biệt danh nể sợ: "Hùm xám Yên Thế".

Sức mạnh và uy thế của Đề Thám lớn đến mức thực dân Pháp đã phải hai lần chủ động ký hòa hoãn với nghĩa quân (vào các năm 1894 và 1901), nhượng bộ quyền kiểm soát nhiều vùng đất rộng lớn cho ông quản lý. Trong những giai đoạn hòa hoãn này, vùng Yên Thế trở thành "mảnh đất tự do", nơi ông vừa tổ chức khẩn hoang, phát triển kinh tế, vừa bí mật tích trữ lương thảo, rèn đúc vũ khí và liên kết với các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh để chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài.

Năm 1909, thực dân Pháp bội ước, tập trung binh lực khổng lồ mở cuộc tấn công quy mô lớn quyết tiêu diệt nghĩa quân Yên Thế. Dù bị bao vây cô lập và lực lượng hao tổn dần, Đề Thám vẫn kiên cường chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Ngày 10/2/1913, ông bị kẻ thù hãm hại, cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài gần 30 năm chính thức khép lại.

Dù phong trào thất bại, nhưng cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng Hoa Thám đã viết nên một trang sử vàng chói lọi về tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường chống ngoại xâm của giai cấp nông dân Việt Nam. Tên tuổi của "Hùm xám Yên Thế" mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc, được trân trọng đặt cho nhiều đường phố, quảng trường và trường học trên khắp cả nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn