HOÀNG HÔN MÁU VÀ BÌNH MINH LỬA: KHÚC TRÁNG CA VỀ NGƯỜI ANH HÙNG VŨ XUÂN
Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử của những cuộc trường chinh không ngơi nghỉ, và trong dòng chảy vĩ đại ấy, mảnh đất Thái Nguyên luôn là một tọa độ đỏ rực rỡ. Từ những cánh rừng ATK Định Hóa chở che thủ đô kháng chiến, cho đến tinh thần bất tử của 60 vầng trăng thanh niên xung phong Đại đội 915 tại ga Lưu Xá, vùng "Đất Thép" chưa bao giờ ngừng sinh ra những con người sẵn sàng lấy máu xương mình tạc vào thế kỷ. Và trong hàng vạn lớp người thanh niên Bắc Thái xếp bút nghiên lên đường ngày
I. Tuổi thơ nhọc nhằm và Lá đơn tòng quân thay đổi cuộc đời.
Vũ Xuân sinh ngày 25 tháng 4 năm 1946 tại thành phố Thái Nguyên, giữa lúc đất nước đang oằn mình trong đạn bom và túng thiếu. Tuổi thơ của anh là một bức tranh nhòe sương của sự bần hàn. Xóm giềng ngày ấy không ai quên được hình ảnh cậu học trò gầy nhom, lọt thỏm trong chiếc áo sờn vai vá chằng vá đụp mặc lại từ anh trai. Những buổi chiều tan học, người ta lại thấy cậu bé ấy trĩu nặng bên hông thùng kem bán dạo, hay lầm lũi oằn vai gánh những bó củi nặng trĩu nhặt nhạnh từ đồi núi để đổi lấy từng bơ gạo, mớ rau phụ mẹ lót dạ qua ngày.
Cái nghèo có thể bào mòn thể xác, nhưng không thể giam hãm một ý chí lớn. Vượt lên nghịch cảnh, Vũ Xuân học rất giỏi. Tháng 7 năm 1963, khi tiếng ve gọi hè râm ran khắp những con dốc Thái Nguyên, chàng thanh niên Vũ Xuân vừa cầm trên tay tấm bằng tốt nghiệp cấp 3. Vào thời điểm bấy giờ, học vấn cấp 3 là một "báu vật". Một tương lai tươi sáng, một công việc ổn định ở hậu phương, hay một cánh cửa đại học đang rộng mở chào đón anh.
Thế nhưng, khi cả miền Bắc đang sục sôi chi viện cho miền Nam ruột thịt, chàng trai 17 tuổi ấy không cho phép mình đứng ngoài cuộc thiêng liêng của dân tộc. Dứt khoát gập lại trang sách, tự tay viết đơn tình nguyện tòng quân, Vũ Xuân đã chọn một con đường đầy máu và nước mắt. Chữ ký trên lá đơn tòng quân ngày ấy không chỉ là nét mực, mà là lời thề từ tâm can của một thanh niên tự nguyện đem quãng đời thanh xuân đẹp nhất của mình làm vật tế sinh cho nền độc lập chung của nòi giống.
II. 10.000 cây số bạt mạng và Đôi chân trần xẻ dọc Trường Sơn.
Mười một năm đằng đẵng trong quân ngũ, Vũ Xuân đã bước vào một cuộc trường chinh vĩ đại vượt ra ngoài sức tưởng tượng của những con người thời bình.
Hãy thử nhắm mắt lại và mường tượng về một hành trình hành quân bộ dài gần 10.000 cây số. Đội hình của Vũ Xuân đã ba lần vượt qua dãy Trường Sơn hùng vĩ, vắt kiệt sức mình qua những nẻo đường chông gai trên đất bạn Lào, lội qua những dòng sông mùa lũ nước xiết ầm ầm, trước khi tiến sâu vào vùng bưng biền ngập nước của chiến trường Tây Nam Bộ.
Họ phải lách qua những cánh rừng rụng trụi lá, trơ trọi gốc cây vì chất độc hóa học da cam; phải oằn mình chui rúc dưới giao thông hào khi những trận "mưa bom bão đạn" từ pháo đài bay B52 cày nát từng mét vuông đất đá. Không chỉ đối mặt với hỏa lực địch, người lính còn phải chiến đấu với sự nghiệt ngã của thiên nhiên. Có những ngày, cơn sốt rét rừng ập đến ác tính. Da tái nhợt, mắt trũng sâu, toàn thân run lên bần bật giữa rừng thiêng nước độc, ruột gan cồn cào vì những bữa ăn chỉ toàn củ chuối, măng đắng.
Nhưng trong cái địa ngục trần gian ấy, trên cương vị Chính trị viên Tiểu đoàn 2311, Đoàn 6 Pháo binh (Quân khu 9), Vũ Xuân chưa bao giờ lùi bước. Anh đi đầu trong mọi gian khó. Bàn chân rớm máu rách nát vì đá dăm và gai nhọn, đôi vai gầy ấy vừa vác những nòng pháo nặng nề, vừa gầm vang khẩu lệnh tiến công. Anh không chỉ là người chỉ huy quân sự, mà còn là điểm tựa tinh thần khổng lồ, gồng gánh sinh mạng và ý chí của hàng trăm anh em chiến sĩ.
III. “Nhật ký Vũ Xuân”: Trái tim hồng nở giữa tọa độ chết.
Nếu sự khốc liệt của chiến tranh là bóng tối, thì tâm hồn Vũ Xuân chính là một viên ngọc phát sáng. Điều làm nên sự vĩ đại của anh không chỉ nằm ở những chiến công cầm súng, mà ở một trái tim dạt dào tình yêu thương con người, được chắt chiu, gìn giữ cẩn thận trong cuốn "Nhật ký Vũ Xuân".
Giữa những khoảng lặng ngắn ngủi hiếm hoi của đạn bom, dưới giao thông hào ngập ngụa bùn lầy, anh mở cuốn sổ tay nhỏ và viết. Anh viết không phải để lưu danh hậu thế, mà để níu giữ phần "Người" lãng mạn nhất giữa bối cảnh của sự hủy diệt. Từng nét bút rỏ xuống những dòng chữ xót xa, đau đáu hướng về quê hương Thái Nguyên:
"Lại một ngày nữa trên Bô-lô-ven. Gió từ Tổ quốc vượt Trường Sơn sang đây ào ạt từng đợt, từng đợt liên tiếp không dứt. Quê hương định nói gì với chúng tôi vậy? Hay muốn xua tan không khí hanh hao của đất Lào đang hành hạ chúng tôi - Những đứa con xa Tổ quốc..."
Chỉ có những con người yêu sống, khát khao sống đến tận cùng mới nhạy cảm đến mức nghe được tiếng thì thầm của gió quê hương giữa muôn trùng hiểm nguy như thế. Yêu quê hương, anh càng trân trọng những người đồng đội quanh mình. Anh nhường nhịn từng viên thuốc ký ninh chống sốt rét cuối cùng, bẻ đôi miếng lương khô ẩm mốc cho những tân binh trẻ tuổi vừa rời vòng tay mẹ.
Trong cuốn nhật ký khét lẹt mùi thuốc súng ấy, người ta tuyệt nhiên không thấy sự tuyệt vọng, mà chỉ thấy một niềm tin sắt đá rực sáng vào tương lai: "Cái buổi sớm mà các mũi tiến quân ào ạt như vũ bão lao vào sào huyệt cuối cùng của giặc... Các chiến sĩ vừa nhảy lên vừa reo hò, tung súng, tung mũ lên cao, cờ bay phần phật trước gió". Anh đã tự tay vẽ nên một viễn cảnh chiến thắng đẹp như một bản hùng ca, dẫu sâu thẳm bên trong, anh biết rõ rằng, máu của chính mình có thể sẽ phải đổ xuống để tô thắm cho lá cờ ấy ngày mai.
IV. Gục ngã trước thềm bình minh và Máu thắm phù sa.
Lịch sử đã chọn một ngày định mệnh: 13 tháng 5 năm 1974. Không khí tại chiến trường miền Tây Nam Bộ quánh đặc lại trong trận đánh tử chiến nhằm nhổ bỏ đồn Kênh 2 (thuộc huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang). Kẻ thù từ trong boong ke kiên cố điên cuồng vãi đạn như mưa, đan thành một lưới lửa chết chóc hòng bẻ gãy đội hình tiến công của bộ đội ta.
Trong thời khắc ngàn cân treo sợi tóc, khi bộ binh ta đang thương vong và bị ghim chặt trước hỏa lực dày đặc, Chính trị viên Vũ Xuân đã đưa ra một quyết định tạc vào vĩnh cửu. Anh bật dậy khỏi hầm trú ẩn, lao thẳng lên tuyến đầu. Giữa làn đạn đan chéo, anh trực tiếp chỉ huy khẩu đội pháo áp sát mục tiêu, biến bản thân thành mồi nhử thu hút hỏa lực địch để mở đường máu cho đội hình phía sau xông lên.
Một tiếng nổ chát chúa xé toạc bầu trời Gò Quao. Vũ Xuân ngã xuống. Thân hình anh hứng trọn mảnh đạn để bảo vệ trận địa. Máu của người con núi rừng Bắc Thái đã tuôn chảy, hòa quyện vào dòng nước đỏ quạch nặng phù sa của miền Tây Nam Bộ.
Anh ra đi ở tuổi 28. Trớ trêu thay và cũng bi tráng thay, lúc ấy ngày Giải phóng miền Nam (30/4/1975) chỉ còn cách chưa đầy một năm. Anh đã ngã xuống ngay trước thềm cửa ngõ của bình minh, mãi mãi không thể đứng trong hàng ngũ đoàn quân chiến thắng, mãi mãi không thể tận mắt nhìn thấy cảnh tượng "tung súng, tung mũ lên cao" mà anh đã hằng đêm khao khát trong trang nhật ký.
V. Giá trị và sự tri ân
Hòa bình lập lại, chiến tranh lùi xa, nhưng những người đồng đội cựu binh chưa bao giờ nguôi ngoai nỗi nhớ về người Chính trị viên năm ấy. Năm 1980, Đại tá Đỗ Hà Thái cùng những người bạn vào sinh ra tử đã lặn lội khắp các cánh rừng bưng biền miền Nam, cất công đào tìm từng tấc đất để đưa người anh em của mình trở về. Đúng vào ngày giỗ của anh, hài cốt Vũ Xuân đã vượt hàng ngàn cây số về đến đất mẹ. Nước mắt người mẹ già Thái Nguyên đã cạn khô vì khóc thương nay lại tuôn trào trên nắp phần mộ, đón đứa con trai xa nhà 17 năm đằng đẵng nay đã hóa thân thành một bức tượng đài bất tử.
Để ghi nhận sự hy sinh vô giá ấy, năm 2012, Đảng và Nhà nước đã trân trọng truy tặng liệt sĩ Vũ Xuân danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.
Cuộc đời 28 mùa xuân của anh đã khép lại, nhưng ngọn lửa cháy trong "Nhật ký Vũ Xuân" thì không bao giờ tắt. Câu chuyện hoa lửa ấy không phải là những dòng chữ khô khan nằm phủ bụi trong viện bảo tàng lịch sử. Đó là một di sản tinh thần vô giá, là một tiếng vọng trầm hùng từ quá khứ truyền thẳng vào huyết quản của những người trẻ hôm nay.
Hôm nay, khi đứng trước tượng đài của 60 vầng trăng thanh niên xung phong Đại đội 915, hay khi khoác lên mình màu áo xanh của Hội Liên hiệp Thanh niên tỉnh Thái Nguyên trong những phong trào thi đua rực rỡ, mỗi người trẻ chúng ta lại thấy bóng dáng của Vũ Xuân thao thức gọi về. Ngọn lửa của Vũ Xuân nhắc nhở thế hệ thanh niên rằng: Cái giá của nền hòa bình, tự do được trả bằng máu, bằng nước mắt và bằng thanh xuân của lớp lớp cha anh. Sứ mệnh của tuổi trẻ Thái Nguyên hôm nay không chỉ là ghi nhớ, mà là phải sống, phải học tập, rèn luyện bản lĩnh và cống hiến hết mình, để viết tiếp bản hùng ca của quê hương, giữ cho ngọn lửa từ "Đất Thép" mãi mãi tỏa sáng trên bầu trời Tổ quốc.



