Hoàng Hữu Kháng: Người cận vệ hơn 25 năm bên Bác Hồ

Hoàng Hữu Kháng sinh năm 1912 với tên khai sinh Nguyễn Hữu Cao, tại xã Minh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông biết đôi chút võ nghệ, côn, quyền nên sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp. Cuối năm 1940, ông được huyện điều đi bảo vệ cuộc mít-tinh kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga do tỉnh tổ chức. Kế hoạch bị lộ, thực dân Pháp cho phục sẵn quân đàn áp, ông bị bắt khi tay không tả xung hữu đột để yểm trợ một cán bộ tỉnh chạy thoát. Bị coi là tù chính trị, ông bị đày đến nhà tù Sơn La, và trong tù trở thành đảng viên cộng sản.
Cuối năm 1941, ông cùng Tạ Xuân Thu, Nguyễn Cơ Thạch, Hoàng Đình Rong, Nguyễn Tạo và Song Hào được chi bộ bí mật trong tù tổ chức cho vượt ngục. Ra tù, ông được anh em đặt tên mới là Nguyễn Văn Lý, tham gia Quân giải phóng đánh Nhật ở chợ Chu, chợ Đồn, Đèo Khế, có lúc đem quân về tận thị xã Thái Nguyên lấy đồn. Khi Trường Quân chính kháng Nhật thành lập ở Tân Trào do Hoàng Văn Thái (sau là Đại tướng) phụ trách, ông được điều sang phụ trách hành chính, hậu cần của trường. Tháng 3-1945, Trung ương giao ông phụ trách tài chính quản trị cho cơ quan Trung ương đóng ở Tân Trào.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ và Trung ương về Hà Nội, ông được Bác giao ở lại xây dựng “hậu phương lưu trú”. Tháng 10-1945, ông Nguyễn Lương Bằng thay mặt Trung ương gọi ông về Hà Nội, giao nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ Bác, mở đầu sự nghiệp người chiến sĩ cận vệ. Tháng 2-1953, khi Chính phủ ban hành Sắc lệnh 141 thành lập Cục Cảnh vệ Trung ương thuộc Thứ Bộ Công an, ông được giao làm Phó Cục trưởng kiêm Đội trưởng Đội bảo vệ Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ. Ông có hơn 25 năm phục vụ và bảo vệ Bác.
Ở Tân Trào, một đêm cơ quan nhận tin có toán phỉ đang vượt đèo De vào căn cứ xin hàng, hợp tác với Việt Minh đánh Nhật. Bác nhận định đó là bọn trá hàng, bảo ông chuyển lời cho Tạ Xuân Thu chặn chúng ở đèo De, đồng thời vẫn bình thản làm việc với Võ Nguyên Giáp chờ kết quả. Khi quân ta chặn lại, khoảng 40 tên nổ súng quyết liệt; khi chúng bị tiêu hao nặng thì quân Nhật ở chợ Chu kéo lên tiếp ứng, chứng tỏ chúng là tay sai phát xít Nhật, đúng như Bác dự đoán.
Ở Hà Nội, ông thường trực bên Bác từ 8 giờ đến 12 giờ trưa và từ 13 giờ 30 đến 17 giờ. Khi Bác tiếp các đại biểu quân Tưởng, Anh, Mỹ, những người này lúc dọa dẫm, lúc khiêu khích, rồi chuyển sang đòi hỏi vật chất và ngồi lì quấy rầy. Để Bác bớt vất vả, ông đề xuất và được ông Nguyễn Lương Bằng đồng ý làm loại “card” hẹn gặp có ghi giờ quy định cho khách nước ngoài. Người tiếp tân giữ card, mời lần lượt từng người vào, và khi ai có ý ngồi lì, nhân viên lễ tân mang card của người kế tiếp vào đưa Bác xem, cố ý để khách nhìn thấy, buộc họ phải đứng dậy.
Ông còn nhớ mãi một buổi sáng ở Bắc Bộ phủ, khi Bác được Lư Hán mời gặp. Bác cho ông, anh Vũ Long Chuẩn (Vũ Kỳ) và anh Hảo lái xe đi cùng, tất cả đều mang súng ngắn, riêng ông mang thêm tiểu liên. Tại Phủ Toàn quyền, Bác vào gặp, đến nửa giờ sau ra cùng một sĩ quan Tưởng; sau đó xe đến nhà Triệu Bạch Xương, rồi bị một xe chở đầy lính Tưởng áp tải đến số 33 Phạm Ngũ Lão, nơi ở của Chu Phúc Thành. Trước khi lên gác, Bác nhìn anh em với ánh mắt dặn hãy bình tĩnh. Sau đó một tiểu đội lính Tưởng dồn ba người vào một phòng nhỏ và tước hết vũ khí. Dù uất nghẹn, ông nén lại vì nhớ ánh mắt của Bác. Quá trưa, Bác được về, nhưng chúng giữ lại chiếc xe và anh Hảo. Một tháng sau, anh Hảo được thả, kể rằng bị tra tấn dã man, ép nhận đã dùng xe của Bác chở người đi bắn chết một Pháp kiều, nhưng vẫn kiên cường không khai. Chiếc xe của Bác bị giữ và không bao giờ được trả. Sau này Bác cười nói vui rằng hôm ấy Bác chỉ sợ các chú vì muốn diệt mấy con nhặng bẩn mà lỡ tay đập vỡ bình quý.
Sau Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3, nhất là khi Bác thăm nước Pháp về, tình hình căng thẳng, ông rất lo vì trách nhiệm. Hằng ngày Bác vẫn đến làm việc tại Bắc Bộ phủ rất đúng giờ, quanh vườn hoa Chí Linh, vườn hoa Con Cóc luôn có mật thám lởn vởn, chúng còn giả xin tiếp kiến để dò xem Bác có thực làm việc ở đó không, rồi bám đuôi tìm nơi Bác nghỉ đêm, nhưng đều bất lực. Nơi làm việc công khai của Bác lúc ấy là số 8 phố Vua Lê, đèn phòng tầng 2 sáng đến quá 11 giờ đêm. Có hôm Bác chủ trì họp Thường vụ Trung ương ở những nơi bí mật như làng Nhân Chính, Quần Ngựa, Tân Vạn Phúc (Hà Đông); có đêm Bác nghỉ tại 112 Lò Đúc hoặc nhà ông Đặng Thai Mai. Ông nhớ những bữa cơm ở Việt Bắc, Bác gắp thêm măng, nhường miếng cháy, dặn “Chú vất vả quá, cố mà ăn để có sức khỏe”; chiếc áo trấn thủ Bác cho mặc mùa đông giá rét, cùng khẩu súng ngắn, khẩu các-bin, chiếc ba lô, chiếc mền mỏng là những kỷ vật ông giữ.
Kỷ niệm thiêng liêng nhất là cái tên Hoàng Hữu Kháng do chính Bác đặt cho trên đường bảo vệ Bác trở lại căn cứ địa Việt Bắc đầu năm 1947, lấy một chữ trong khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Như vậy ông có ba tên trong đời: Nguyễn Hữu Cao do cha mẹ đặt, Nguyễn Văn Lý do đồng đội đặt, và Hoàng Hữu Kháng do Bác đặt.
Khi hóa trang bố trí bảo vệ Bác đi công tác nơi hẻo lánh, biên giới, hải đảo hay đi gặt lúa chống hạn, Bác không phê bình mà nhẹ nhàng chỉ ra ngay trên xe: cô gái đội nón quai nylon ở gốc cây gạo, người vờ chữa xích xe, mấy nông dân bắp chân trắng gánh lúa chạy theo đều là “quân chú Kháng”, rồi nói “hôm nay chú Kháng rải quân đông quá”. Mỗi lần như vậy, ông cùng đồng sự lại họp rút kinh nghiệm. Khi làm kín đáo và tốt, Bác cũng khen “các cô chú cảnh vệ làm như vậy là tốt”. Năm 1963, đến thăm Hội nghị tổng kết cảnh vệ, Bác dạy phải có kỹ thuật, phải dựa vào dân, và đừng xem Bác như quả trứng vỏ mỏng dễ vỡ, cứ chặn trước chặn sau không cho ai đến gần. Ông nhớ thời ở Tân Trào, khi Bác tắm suối, ông và mấy đồng chí bơi vây quanh đề phòng bất trắc, Bác nói vui: “Các chú là những chiếc Dakota chiến đấu, còn Bác là máy bay bà già.” Với ông, một lần Bác chê, một lần Bác khen ý thức bảo vệ, đều là bài học ghi nhớ mãi.


