HOÀNG KIM LẾNH
Đêm ngày 26/7/1974, đơn vị của Hoàng Kim Lếnh (quê quán thôn Mỹ Hào – xã Cẩm Giàng – thành phố Hải Phòng) tổ chức tập kích vào hai cứ điểm Giáng La và Điện Thọ (nay là xã Điện Bàn Tây – thành phố Đà Nẵng), anh được giao nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường và phụ trách trinh sát, lên sa bàn luyện tập cho tiểu đoàn tiêu diệt cứ điểm. Đúng hai giờ sáng, đơn vị nổ súng nhưng địch chống trả quyết liệt làm toàn bộ Đại đội 3 hy sinh, trong đó có Chính trị viên Cao Xuân Màu. Tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho Lếnh xuống chỉ huy Đại đội 3 đánh mũi thọc sâu tiêu diệt vị trí tổng chỉ huy của địch và bắn pháo hiệu xin chi viện. Chính trị viên phó Đại đội 1 Đào Xuân Đán cùng một đồng đội đến tăng cường, dùng mìn định hướng và bộc phá mở cửa, đánh thẳng vào trung tâm. Đến 5 giờ sáng, số người ít ỏi của ta đã làm chủ Giáng La. Lếnh bị thương nặng vào đầu, bụng và đùi và rút được về trạm tiểu phẫu tiền phương. Y tá cho biết, vết thương nghiêm trọng phải cắt bỏ chân mới mong cứu sống. Đầu tiên tháo khớp gối, cưa "sống" rối lại bị nhiễm trùng, các bác sĩ quyết định tháo toàn bộ chân phải.
Dường như biết mình sẽ không qua khỏi, anh gọi Đán vào dặn: "Mình có khả năng không thể sống được, Đán và anh em ở lại giữ vững quyết tâm chiến đấu cho đến ngày thống nhất Tổ quốc và trả thù cho anh em trong đơn vị đã hy sinh - đặc biệt là trận Giáng La, anh em ta hy sinh, tổn thất quá nhiều. Mình nhờ Đán một việc, đến ngày đó, Đán mang hộ mình quyển nhật ký này và quân tư trang của mình về quê, động viên bố mẹ và các em mình nhé". Lúc ấy, không sao cầm được nước mắt, Đán chỉ muốn hét lên: "Không được chết, anh Lếnh ơi!". Đến ngày 2/8/1974, trước lúc được đưa vào trạm tiểu phẫu tiền phương để cắt bỏ toàn bộ chân phải do bị thương nặng, Hoàng Kim Lếnh đã trao lại nhật ký và quân tư trang cho Đán và dặn khi nào giải phóng thì hãy mang về trao lại cho gia đình. 8 giờ sáng, trạm tiểu phẫu bắt đầu cắt bỏ chân đồng chí Lếnh; anh Đán nhớ lại, ngồi ngoài lều chỉ nghe đồng đội mình hét lên rất to "Đán ơi", rồi im bặt và biết anh Lếnh hi sinh khi chỉ còn tám tháng nữa, miền Nam hoàn toàn giải phóng. Tháng 9/1975, Đào Xuân Đán tìm về gia đình liệt sĩ Lếnh trao kỷ vật. Khi ấy, em trai liệt sĩ là Hoàng Kim Mười đang chiến đấu ở Lào về phép đã giấu biệt gia đình về việc anh cả đã hy sinh. Mãi đến tháng 8/1976, khi giấy báo tử được gửi về thì gia đình mới biết.
Nhật ký đã nhuốm màu thời gian, nhưng dòng chữ và tranh minh họa còn sắc nét, được Hoàng Kim Lếnh ghi chép tỉ mỉ từ tháng 7/1967, thời điểm anh từ biệt gia đình lên đường nhập ngũ đến trước ngày nằm lại ở chiến trường Quảng Đà. "Tuổi 20 khi hướng đời đã thấy/ Thì nguy nan biết mấy cũng lên đường..." là những dòng chữ đầu tiên anh đã nắn nót ghi vào cuốn nhật ký như còn vương mùi thuốc súng ở chiến trường Quảng Đà đầy mưa bom, bão đạn. Tháng 6/1968, Lếnh cùng đơn vị vào đến Quảng Nam, chiến đấu ở mặt trận Quảng Đà, là Tiểu đội phó, rồi Tiểu đội trưởng, làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, đạn dược, đánh địch càn quét vùng Đại Lộc - Duy Xuyên. Bất chấp máy bay địch oanh tạc, đánh bom cũng như rải chất độc hóa học và phục kích gài mìn, anh luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Anh viết vào tháng 3/1969: "Địch đã rút khỏi hậu cứ của ta, chúng tôi trở về C3 (Thành Mỹ). Tôi bị sốt đợt hai, 4 - 5 ngày không ăn nổi hạt cơm, thậm chí sữa cũng không nuốt nổi. Trong khi đó, đơn vị chuyển về chân dốc Ông Thủ. Sau hơn một tuần sốt liên miên, tôi quá mệt và được đi bệnh xá D. Bệnh xá lúc này ở bên kia dốc Gió, nếu khỏe vừa đi vừa về một ngày nhưng tôi đi hai ngày mới tới, nhiều đoạn phải có y tá cõng. Sau mấy ngày điều trị ở bệnh xá, có đêm tôi bị ngất trong lúc đi giải vì kiệt sức. Sau hơn một tháng, tôi đã bớt tuy người vẫn ớn và xanh, sức còn yếu nhưng tôi vẫn xin về đơn vị. Về đơn vị lúc này vẫn nhận nhiệm vụ cũ, vừa chuyển đạn, vừa chuyển gạo. Thời gian này địch đánh bom pháo hết sức căng thẳng và ác liệt. Chúng tôi toàn ngủ dưới hầm vì ngày đêm bom đạn, cứ ít ngày là có người hy sinh. Mặc dù ác liệt, đơn vị vẫn tiếp tục nhiệm vụ và công việc cũ, tức là hai ngày đi xuống đồng bằng một lần, ngày bị chết hụt 4 - 5 lần do bom pháo biệt kích. Tình hình ngày càng căng, cả ngày chỉ 2 bữa, mỗi bữa 1 bát cơm, có ngày 2 bát cháo. Biệt kích lên núi nhiều, đơn vị tôi được phân công tuần tra cảnh giới và chốt giữ khu vực dốc Ông Thủ. Khu vực này suốt ngày bom tọa độ và pháo bầy. Trước kia, cây cối mọc um tùm, người đông vui nhưng nay đổ nát tiêu điều, trơ trụi, bốc nắm đất ít nhất cũng có 1/3 là sắt thép".
Đêm giao thừa năm Canh Tuất (1970) được anh ghi lại: "Tết đầu tiên xa nhà, Tết thứ nhất trong quân đội, Tết thứ nhất trong chiến trường ở núi giời Lộc Linh bên bờ sông Bung gần vòi nước không có nhà cửa và không có cơ sở vật chất. Chúng tôi ăn Tết tại doanh trại khu dốc Gió. Đêm giao thừa, tất cả ngồi quây quần ở một chiếc hầm trâu. Bữa cơm cuối năm là 1 chén bắp hầm. Khi anh Thép - Đại đội phó nói chuyện ngày Tết, chúng tôi nhớ quê, có đồng chí rớt nước mất. Vì quá đói và mệt, tôi ngủ thiếp mà không biết giao thừa đã đi qua lúc nào. Những ngày sau đó, tình hình lại càng trở nên trầm trọng, cả đại đội hơn 40 người mà trong kho không còn một hạt gạo, chỉ còn khoảng một cân muối và nửa lon mì chính". Anh đã chứng kiến, trực tiếp chiến đấu và ghi lại: "Trận 29/8/1972: Tôi ở hầm chỉ huy. Lúc này bọn ngụy nhào vào cách 20m. Sau bị đánh mạnh, chúng lui ra nằm bắn vào và gọi cối, pháo, máy bay tới bắn xối xả. Đến 6 giờ tối, chúng gọi 15 xe từ Điện Hồng xuống để hỗ trợ nhưng chúng tôi đã chiến đấu, bắn cháy 6 chiếc. Cuộc chiến đấu kéo dài tới 20 giờ tiếng súng con mới yên, chỉ còn những đợt pháo bắn từ Bồ Bồ tới. Chúng tôi rời vị trí theo đường cầu Kỳ Lam tới Gò Nổi (Điện Quang) dừng ở đó".
Theo ghi chép từ nhật ký, địa bàn nơi trú chân của Lếnh và đồng đội là xóm Châu Ký. "Châu Ký là xóm nhỏ của xã Xuyên Hòa - tỉnh Quảng Đà, xung quanh bao bọc bởi những đồng nước ngập. Nơi đây địch có thể dùng không chế vùng giải phóng của hai xã Xuyên Khương và Xuyên Hòa nên chúng mưu toan chiếm vị trí này". Ngày 29/1/1973, sau ngày Hiệp định Paris có hiệu lực, anh viết: " Cuộc chiến đấu kéo dài, tiếng súng nổ như bắp rang. Tôi nghe tiếng chửi của bọn chỉ huy thúc lính lên. Còn chúng tôi chiến đấu đã hơn bốn tiếng liên tục, đạn gần hết, chỉ còn mỗi người một băng, súng chống tăng B40 đã hết mà địch vẫn còn bâu như đỉa đói. Chúng dùng xe tấn công rồi cho bộ binh mò vào, tình hình cực kỳ nguy hiểm.
Ngân, Tờ, anh Thâm đã hết đạn, chỉ còn quả lựu đạn cuối cùng, khi ném ra khỏi tay thì hy sinh. Lợi dụng tình thế đó, bọn chúng đã tiến vào chốt Châu Ký. Bọn địch vào cách tôi 50m, tình thế rất hiểm nghèo. Tôi quyết định chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Tôi vừa bắn vừa ra hiệu cho Sáu lợi dụng bờ cao lui về sau. Thấy chỉ còn một súng ở một hướng bắn, địch dựa vào xe tiến tới. Tôi lui về đưa cho Sáu hai trái lựu đạn, nói ta thà hy sinh chứ quyết không để chúng làm nhục đến thân thể. Giữa lúc gian nguy, tôi sực nhớ tới ba quả pháo hiệu mà đơn vị giao cho để khi cần báo cho đơn vị biết. Tôi suy nghĩ giây lát rồi lấy một quả màu đỏ ra. Tôi giật mạnh chốt quả pháo hiệu, chếch về hướng cơ quan chỉ huy. Sau năm phút khi bắn quả pháo hiệu, tình thế vẫn căng, địch càng vào gần hơn. Địch đóng bên ngoài và giở trò ngừng bắn. Tôi ra gặp nói chuyện với chúng, khi tôi vừa ra tới công sự thì hàng loạt cối và pháo bắn cấp tập. Ngớt pháo, chúng lăm lăm súng đi vào. Cách 20m, tôi nổ súng. Chúng chống trả yếu ớt, số mang xác đồng bọn ra, số còn lại lợi dụng bờ cao tránh đạn. 11 giờ, chúng tăng viện. Khi địch đến gần, Hiệp nổ B40, một số tên bị tiêu diệt, số còn lại tháo chạy và gọi pháo bắn vào trận địa. 2 giờ chiều, Hiệp và Ngân bị thương...
Ngày 1/2, pháo bắn như mưa vào trận địa. 7 chiếc M113 chở đầy lính tiến vào. Chúng tôi chiến đấu nhiều tiếng liên tục, đạn gần hết, mỗi người chỉ còn một băng, súng chống tăng B40 đã hết mà địch vẫn còn. Lúc này tôi chỉ còn 1 băng đạn và 4 quả lựu đạn. Thấy thế địch tiến tới, súng chỉ còn 5 viên, tôi đưa cho Sáu 2 trái lựu đạn, nói cậu ra cảnh giới phía đó, tôi cảnh giới hướng này, nếu xe đến ta thà hy sinh chứ không để chúng làm nhục thân thế. Tôi liền bắn chếch 1 quả pháo hiệu về hướng cơ quan chỉ huy. Địch tưởng đã làm chủ hoàn toàn, thằng đi trước súng xách tay, mắt nhấc nháo. Tôi ngắm kỹ, bóp từng viên. Bị bất ngờ, chúng ùa nhau chạy và tôi cũng vừa hết đạn. Lợi dụng lúc địch lúng túng và cối của cấp trên chi viện, chúng tôi vượt đồng nước rút lui về vùng 7 Xuyên Khương. Đạn xe của địch đuổi theo líu chíu. Giữ chốt 4 ngày ròng rã, chúng tôi đã về đơn vị, bây giờ mới biết còn sống..."
Trận này, trung đội của anh đã đánh bại 8 đợt tiến công của địch, tiêu diệt hơn 60 tên nhưng buộc phải lui quân nên Hoàng Kim Lếnh vẫn cảm thấy mình chưa hoàn thành nhiệm vụ. Trong nhật ký, anh viết đầy tiếc nuối, hạ quyết tâm làm tốt hơn trong những lần gặp địch sắp tới trước khi ngày định mệnh 26/7/1974 đến. Tháng 7/2008, Đào Xuân Đán cùng gia đình anh Lếnh mới có điều kiện vào Quảng Nam và may mắn tìm được hài cốt liệt sĩ trước khi an táng tại nghĩa trang quê nhà. Ngày 29/10/2014, Chủ tịch nước ký Quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh.



