Hoàng Minh Đạo - Nhà tình báo kiệt xuất và hành trình thầm lặng kiến tạo mạng lưới quân báo Việt Nam
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc đầy gian khổ và oanh liệt của nhân dân ta, ngành Tình báo Quốc phòng Việt Nam đóng vai trò như một thứ vũ khí vô hình nhưng sắc bén, đóng góp thầm lặng vào những chiến công xoay chuyển cục diện chiến trường. Giữa hàng vạn chiến sĩ vô danh trên mặt trận thầm lặng ấy, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Liệt sĩ Đào Phúc Lộc, người mang nhiều bí danh huyền thoại như Hoàng Minh Đạo, Năm Thu, Năm Đời, được tôn vinh là cánh chim đầu đàn, người đặt nền móng tiên phong xây dựng nên ngành Quân báo, Tình báo quân sự nước nhà. Suốt chiều dài cuộc đời chỉ vỏn vẹn bốn mươi sáu năm, ông đã cống hiến trọn vẹn tuổi trẻ, tài năng và xương máu cho nền độc lập dân tộc, để lại một chương lịch sử hào hùng, ly kỳ nhưng cũng thấm đẫm nước mắt.

Sinh ngày 4 tháng 8 năm 1923 tại thôn Vườn Trầu, xã Vạn Xuân, là con thứ trong số 5 người con của thương nhân Đào Ngọc Khanh giàu có và nổi tiếng là một đại tư sản ở đất Quảng Ninh - Hải Phòng. Mẹ ông mất khi ông 6 tuổi và em út mới chừng 20 tháng. Người mẹ kế - một ả đào nổi tiếng hát hay, xinh đẹp nhất đất cảng - đã nhân lúc bố Lộc đi công chuyện xa, đuổi 4 chị em ra khỏi nhà (một em đã mất do bệnh). Bố ông đã phải ngậm đắng nuốt cay gửi 2 em nhỏ cho một người bà con trông giùm còn Lộc và chị Hải được bố thuê nhà ở hẻm cô Ba Chìa cho trọ học.
Trái với đam mê kinh doanh của bố, mấy chị em Lộc đều chung một lòng một dạ hướng đến cách mạng. Những năm tháng trọ học ở Hải Phòng đã đưa chị em ông được làm quen với đồng chí Tô Hiệu – người Đảng viên cộng sản xuất sắc. Chị Hải trở thành nữ giao liên ZT (giao thông) giữ đường dây liên lạc bí mật của khu ủy với phong trào vùng mỏ bị đánh phá dữ dội nhất. Điều đó đã khiến Lộc sớm giác ngộ, đi theo cách mạng khi vừa tròn 13 tuổi (năm 1936). Phát hiện ra tố chất thông minh của Lộc, đồng chí Tô Hiệu đã dìu dắt và kết nạp Lộc vào Đảng Cộng sản Việt Nam khi mới 16 tuổi. Từ đây, ông trở thành cánh tay phải đắc lực của chị Hải trong công tác giao liên.
Sự nhạy bén tuyệt vời của ông nhanh chóng thu hút sự chú ý của các nhà cách mạng tiền bối, để rồi vào năm 1939, khi chỉ vừa tròn mười sáu tuổi, ông vinh dự được đồng chí Tô Hiệu trực tiếp giáo dục, kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và giao trọng trách làm liên lạc mật. Bước ngoặt lớn này chính là bệ phóng đưa Đào Phúc Lộc dấn thân vào con đường cách mạng chuyên nghiệp, nơi ông bắt đầu thể hiện những tố chất thiên bẩm của một nhà tình báo kiệt xuất tương lai.
Sóng gió ập đến vào năm 1940 khi ông bị thực dân Pháp bắt giữ trong một chuyến công tác bí mật. Trải qua hai năm tù đày chịu đựng những trận đòn tra tấn dã man cùng năm năm bị quản thúc tại quê nhà Móng Cái, người chiến sĩ trẻ tuổi vẫn giữ vững khí tiết kiên trung, tuyệt đối không hé môi nửa lời để bảo vệ tổ chức. Lợi dụng sự sơ hở của kẻ thù, ông đã mưu trí trốn sang Trung Quốc, thành lập Chi bộ Trần Hưng Đạo để tiếp tục chỉ đạo phong trào Việt Minh ở vùng biên giới duyên hải. Trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa, ông đã lập chiến công xuất sắc khi xây dựng tuyến giao thông ngoại giao mang mật danh ZT, đưa đoàn đại biểu Việt Minh sang Trung Quốc an toàn để tạo mối liên kết quốc tế. Đỉnh cao của sự mưu trí trong giai đoạn này là cuộc giải cứu ngoạn mục ba mươi chiến sĩ cách mạng bị giam lỏng tại Ba Chẽ mà không cần phải nổ một tiếng súng nào, thể hiện nhãn quan sắc bén của một nhà chỉ huy quân sự tài ba.
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đứng trước tình thế hiểm nghèo ngàn cân treo sợi tóc. Nhận thấy tầm quan trọng tối thượng của việc nắm bắt thông tin kẻ thù, Bộ Tổng Tham mưu quân đội quốc gia được thành lập. Lúc này, Đào Phúc Lộc chỉ mới bước sang tuổi hai mươi hai, một độ tuổi còn rất trẻ nhưng đã sở hữu kinh nghiệm hoạt động dày dặn và bản lĩnh vững vàng. Chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhìn ra tài năng kiệt xuất của ông và trực tiếp trao quyết định bổ nhiệm ông làm Trưởng phòng Tình báo đầu tiên thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Nhận trọng trách lịch sử, người thanh niên trẻ tuổi đã bắt tay vào công cuộc vĩ đại là xây dựng hệ thống quân báo và điệp báo chiến lược. Bằng tư duy tổ chức khoa học kết hợp với thực tiễn chiến đấu, ông đã nhanh chóng thiết lập mạng lưới tình báo bao phủ rộng khắp hai mươi ba tỉnh thành từ miền bắc kéo dài đến Thừa Thiên Huế.
Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hoàng Minh Đạo, các lưới tình báo Việt Nam thời kỳ đầu đã lập nên những kỳ tích không tưởng. Ông chủ trương cài cắm người vào sâu trong các cơ quan đầu não của thực dân Pháp tại Hà Nội như văn phòng thư ký, doanh trại, nhà thầu quân sự, thậm chí là ngay tại sân bay Gia Lâm. Nhờ mạng lưới tình báo tinh vi này, ta đã thu thập được nhiều nguồn tin tình báo quân sự có giá trị chiến lược cao như kế hoạch Pháp chuẩn bị gây hấn đánh chiếm thủ đô Hà Nội hay mưu đồ vũ trang cho các nhóm kiều dân Pháp phản động. Những thông tin này giúp Bộ chỉ huy tối cao của ta chủ động chuẩn bị lực lượng, đập tan các âm mưu đảo chính nguy hiểm và bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng non trẻ trong những ngày đầu.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt và lan rộng toàn quốc, chiến trường miền Nam trở thành địa bàn vô cùng phức tạp. Năm 1948, Hoàng Minh Đạo được cử làm đặc phái viên của Bộ Tổng Tham mưu vào Nam Bộ với sứ mệnh vô cùng nặng nề là chấn chỉnh, thống nhất các tổ chức tình báo và quân báo đang hoạt động rời rạc tại đây. Đến tháng mười năm 1949, ông chính thức đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Quân báo Nam Bộ. Với phong cách làm việc sâu sát, kiên quyết nhưng đầy lòng bao dung, ông đã quy tụ được những chiến sĩ tình báo tài năng nhất, tổ chức lại hệ thống chỉ huy thống nhất, huấn luyện nghiệp vụ bài bản và định hình nên nghệ thuật chỉ đạo tình báo quân sự miền Nam.
Không chỉ dừng lại ở các chiến công quân sự, Hoàng Minh Đạo còn nổi tiếng là một nhà chỉ huy có cái nhìn thấu suốt, công minh và giàu tình thương đồng đội. Một trong những dấu ấn lớn nhất thể hiện bản lĩnh của ông là việc giải quyết thành công vụ kỳ án minh oan cho ba mươi tư cán bộ, chiến sĩ Nam Bộ vào đầu năm 1950. Trong bối cảnh chiến tranh ác liệt, một số cán bộ ngụy tạo thông tin khiến nội bộ nghi ngờ ba mươi tư đồng chí này là gián điệp của Phòng Nhì, Pháp. Bằng sự tỉnh táo, khách quan và không chấp nhận sự hàm oan cho đồng đội, Hoàng Minh Đạo đã giao nhiệm vụ cho thuộc cấp thẩm tra lại toàn bộ hồ sơ một cách cẩn trọng suốt nửa năm trời. Kết quả điều tra công phu đã trả lại sự trong sạch tuyệt đối cho các chiến sĩ, cứu mạng những người con kiên trung của Đảng và bảo toàn khối đoàn kết nội bộ vững chắc.
Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết vào năm 1954, đất nước bị chia cắt, Hoàng Minh Đạo tiếp tục nhận lệnh ở lại miền Nam để hoạt động bí mật. Đây là thời kỳ đen tối và khốc liệt nhất của cách mạng miền Nam dưới ách thống trị tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Trên cương vị là người sáng lập ra Ban Địch tình Xứ ủy Nam Kỳ và ngành Binh vận, ông đã thể hiện tư duy chiến lược thiên tài khi chủ trương khoét sâu vào mâu thuẫn nội bộ của kẻ thù. Ông đã khéo léo chỉ đạo các lực lượng bí mật vận động, dựng cờ các giáo phái ly khai chống lại chính quyền Mỹ-Diệm, tạo dựng cơ sở cách mạng vững chắc ngay trong lòng nội đô Sài Gòn.
Sự nguy hiểm luôn cận kề khi vào năm 1957, do có kẻ phản bội, ông bị địch bắt giam tại nhà lao Phú Lợi. Bọn gián điệp và cảnh sát ngụy dùng mọi thủ đoạn tra tấn tàn khốc nhất hòng khuất phục người đứng đầu ngành tình báo, nhưng chúng hoàn toàn thất bại trước ý chí sắt đá của ông. Bằng sự khôn khéo và mưu trí tuyệt vời, ông đã tìm cách bắt liên lạc với các cơ sở bên ngoài và thực hiện một cuộc vượt ngục huyền thoại thành công, tiếp tục trở lại chiến trường để lãnh đạo phong trào cách mạng.

Đồng chí Hoàng Minh Đạo khi hoạt động tại Sài Gòn, phụ trách Ban Địch tình Xứ ủy Nam Bộ năm 1957.



