Hoàng Minh Giám – Bốn giờ bên bàn đàm phán trước Hiệp định ngày 6 tháng 3
Trưa 6/3/1946, Hoàng Minh Giám có mặt cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc thương lượng những điều khoản cuối cùng với đại diện Pháp. Từ một nhà giáo, ông trở thành trợ thủ ngoại giao tin cậy của Chính phủ giữa thời khắc nền độc lập non trẻ đứng trước tình thế vô cùng hiểm nghèo.
Trưa ngày 6 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, một cuộc thương lượng đặc biệt vẫn chưa kết thúc. Đồng hồ đã chỉ 12 giờ 30 phút. Chỉ còn khoảng bốn giờ trước thời điểm dự kiến ký Hiệp định Sơ bộ Việt – Pháp, nhưng những điều khoản cuối cùng vẫn đang được cân nhắc từng chữ.
Bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh có Hoàng Minh Giám, một nhà giáo vừa bước vào công việc của chính quyền cách mạng chưa đầy một năm. Đối diện họ là Jean Sainteny và Léon Pignon, những đại diện của Pháp. Trên bàn không chỉ là một bản dự thảo hiệp định. Đó là bài toán sinh tử của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời.
Hoàng Minh Giám sinh ngày 4 tháng 11 năm 1904 tại xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông lớn lên trong một gia đình có truyền thống học hành và yêu nước. Cha ông là Hoàng Tăng Bí, một trong những người tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào từng chủ trương dùng giáo dục để mở mang dân trí và chấn hưng đất nước.
Hoàng Minh Giám ban đầu đi theo con đường dạy học. Trong những năm sống tại Sài Gòn, ông vừa giảng dạy vừa viết bài cho các tờ báo tiến bộ như La Cloche Fêlée của Nguyễn An Ninh, L’Annam của Phan Văn Trường và Le Nhaqué. Ông sử dụng vốn tiếng Pháp và kiến thức của mình để tham gia đời sống tư tưởng đang sôi động trong giới trí thức yêu nước.
Từ năm 1926 đến năm 1944, ông tham gia nhiều hoạt động chống thực dân Pháp. Năm 1944, ông chính thức tham gia cách mạng. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Võ Nguyên Giáp mời ông tham gia Chính phủ Lâm thời. Ngày 30 tháng 8 năm 1945, ông được cử làm Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ.
Công việc mới đưa Hoàng Minh Giám đến gần những vấn đề hệ trọng nhất của quốc gia. Khi ấy, chính quyền cách mạng phải đối mặt với nạn đói, nạn dốt, ngân khố cạn kiệt và nhiều lực lượng quân sự nước ngoài cùng hiện diện trên lãnh thổ. Ở miền Bắc có khoảng 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc kéo vào giải giáp quân Nhật. Ở miền Nam, quân Pháp đã nổ súng trở lại. Nếu phải chiến đấu đồng thời với nhiều lực lượng, nền cộng hòa non trẻ có nguy cơ bị đẩy vào thế vô cùng bất lợi.
Trong hoàn cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn sách lược hòa hoãn có nguyên tắc để kéo dài thời gian, củng cố chính quyền và chuẩn bị lực lượng. Hoàng Minh Giám trở thành một trong những trợ thủ trực tiếp của Người trong quá trình tiếp xúc, thương lượng với Jean Sainteny.
Sáng 6 tháng 3 năm 1946, Hội đồng Chính phủ họp để nghe báo cáo về tình hình ngoại giao và dự thảo hiệp định. Đến 12 giờ 30 phút, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng Minh Giám tiếp tục gặp Sainteny cùng Pignon để bàn những điều khoản cuối cùng.
Cuộc thương lượng không thể tiến hành bằng những lời nói mơ hồ. Mỗi khái niệm liên quan đến độc lập, chủ quyền, quân đội và thống nhất lãnh thổ đều phải được cân nhắc. Chỉ một cách diễn đạt khác đi cũng có thể dẫn đến những hậu quả lâu dài.
Khoảng 13 giờ, bản dự thảo được hoàn tất. Đến 16 giờ ngày 6 tháng 3, Hiệp định Sơ bộ được ký tại số 38 phố Lý Thái Tổ, Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh ký thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Jean Sainteny ký thay mặt Chính phủ Pháp.
Hiệp định chưa mang lại nền độc lập trọn vẹn mà nhân dân Việt Nam mong muốn. Tuy nhiên, trong thế bị nhiều lực lượng bao vây, văn kiện giúp Chính phủ tránh phải đối đầu cùng lúc với quá nhiều kẻ thù, tạo điều kiện để quân Trung Hoa Dân quốc rút khỏi miền Bắc và đem lại một khoảng thời gian quý giá cho cách mạng củng cố lực lượng.
Ba ngày sau, ngày 9 tháng 3 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị “Hòa để tiến”, giải thích rõ chủ trương tạm thời hòa hoãn nhưng vẫn phải cảnh giác, phát triển thực lực quân sự và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Hoàng Minh Giám tiếp tục có mặt trong những hoạt động ngoại giao quan trọng. Từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1946, ông tham gia đoàn Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau ở Pháp. Năm 1947, ông được giao giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và đảm nhiệm cương vị này đến tháng 9 năm 1954.
Trong những năm kháng chiến, Bộ Ngoại giao phải làm việc giữa núi rừng, thiếu thốn cả nhân lực lẫn phương tiện liên lạc. Dưới sự chỉ đạo của Hoàng Minh Giám, ngành ngoại giao góp phần thực hiện chủ trương phá thế bao vây, tiến tới thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và nhiều nước khác vào năm 1950. Từ một chính quyền từng bị cô lập, Việt Nam dần có tiếng nói và vị trí trên trường quốc tế.
Sau năm 1954, Hoàng Minh Giám tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách trong lĩnh vực văn hóa, Quốc hội và đối ngoại nhân dân. Ông mất ngày 12 tháng 1 năm 1995, khép lại một cuộc đời hoạt động kéo dài từ lớp học, tòa soạn báo đến những bàn đàm phán quyết định vận mệnh đất nước.
Lịch sử thường ghi lại thời điểm Hiệp định Sơ bộ được ký vào buổi chiều 6 tháng 3 năm 1946. Nhưng trước những chữ ký ấy là nhiều giờ đấu trí, nơi từng từ ngữ đều được lựa chọn giữa sức ép của thời cuộc. Trong căn phòng thương lượng trưa hôm đó, Hoàng Minh Giám đã góp trí tuệ của một nhà giáo và bản lĩnh của một nhà ngoại giao để giúp nước Việt Nam non trẻ giành lấy điều quý giá nhất lúc bấy giờ: thời gian.



