Hoàng Minh Giám trên cương vị “trợ lý ngoại giao” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức nghiêm trọng cả về đối nội và đối ngoại. Trước âm mưu tái xâm lược của thực dân Pháp và những biến động phức tạp của tình hình quốc tế, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triển khai đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và tranh thủ thời gian xây dựng, củng cố lực lượng về mọi mặt. Trong quá trình đó, nhiều trí thức yêu nước đã tham gia vào bộ máy chính quyền cách mạng và đóng góp tích cực cho hoạt động đối ngoại của Nhà nước. Trong số đó, Hoàng Minh Giám là một nhân vật tiêu biểu.
Trước khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, ngày 25-8-1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp đến báo cáo với Chủ tịch Ủy ban giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh về việc đổi tên Ủy ban Giải phóng dân tộc thành Ủy ban Cách mạng lâm thời (tức Chính phủ lâm thời) và danh sách một số trí thức được mời ra giúp Chính phủ, trong đó có Hoàng Minh Giám. Ngày 30-8-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thừa ủy quyền Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh số 01-SL của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bổ nhiệm Hoàng Minh Giám làm Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ. Lúc đó Văn phòng Chính phủ và một số cơ quan, trong đó có Bộ Nội vụ chuyển trụ sở đến Bắc Bộ Phủ, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc. Vì hằng ngày thường gặp và tiếp xúc với tân Đổng lý Văn phòng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy Hoàng Minh Giám có những tính cách phù hợp với công tác ngoại giao, còn Hoàng Minh Giám thì thấy: “Cụ Hồ nhạy cảm vô cùng, thông minh tuyệt vời và có những hiểu biết cực kỳ sâu rộng” (Trần Đương, 2005. tr 173). Hoàng Minh Giám được giao nhiệm vụ Thư ký để ghi biên bản các cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Ngoài ra, các cuộc tiếp xúc, đàm phán của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại diện nước ngoài tại Hà Nội, Hoàng Minh Giám đều được tham dự. Chiều ngày 1-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời hai người trong phái đoàn quân sự Mỹ là A.Patti và Grélecki dự bữa cơm thân mật trước ngày lễ Độc lập của Việt Nam tại Bắc Bộ phủ, cùng dự có Hoàng Minh Giám. Trong cuộc nói chuyện với A.Patti, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho A.Patti biết các yêu cầu của Chính phủ và nhân dân Việt Nam là muốn có một nền độc lập, không có sự cai trị của Pháp, có quyền sống tự do trong gia đình các nước trên thế giới và muốn được các chuyên gia kỹ thuật Mỹ giúp thiết lập một số cơ sở công nghiệp. Sau đó, Hoàng Minh Giám nêu thêm ý kiến: Việt Nam cần và muốn quyền tự do buôn bán, các cảng tự do và vốn của nước ngoài, kể cả vốn của Pháp, nhưng trước hết là vốn của Mỹ và buôn bán với Mỹ.
Ngày 15-10-1945, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Sainteny- đại diện Chính phủ Pháp và Caput- đại diện Đảng Xã hội Pháp, Hoàng Minh Giám cũng có mặt trong buổi tiếp khách này. Đó là cuộc tiếp xúc mở đầu cho một chuỗi các cuộc gặp gỡ, thảo luận cả bí mật và công khai kéo dài 6 tháng về việc Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam.
Trước khi tiến hành Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sainteny có những cuộc gặp riêng sau 20h, tại số 38 phố Lý Thái Tổ (Hà Nội). Những cuộc gặp riêng này, chỉ có Hoàng Minh Giám và Pignon cùng dự. Nội dung các cuộc gặp đều đi đến thỏa thuận chung, duy nhất có hai điểm bế tắc: Ta đòi Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập, Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ nằm trong một đất nước Việt Nam thống nhất nhưng phía Pháp chỉ công nhận ta là một quốc gia tự trị và Nam Kỳ là vùng đất thuộc địa của Pháp, vì vậy hai bên chưa thể ký một văn bản. Tháng 2-1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết, theo đó Trung Hoa dân quốc rút quân về nước để quân Pháp thay thế. Hạm đội Pháp bắt đầu kéo ra Bắc.
Ngày 2-3-1946, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa I, Hoàng Minh Giám được cử làm Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội, Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Ngày 5-3-1946, hạm đội Pháp đến Vịnh Hạ Long, ngày 6-3, hạm đội Pháp tiến vào Cửa Cấm, Hải Phòng và bắn nhau với quân Trung Hoa dân quốc. Tình hình vô cùng căng thẳng, nếu không dàn xếp được sẽ bùng nổ chiến tranh. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì một cuộc họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ để hoàn chỉnh dự thảo một văn bản để ký kết với Pháp. Tại cuộc họp này, Hoàng Minh Giám được cử làm thư ký. Sau khi Hội đồng bàn bạc và nhất trí quyết định sẽ ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp theo các điều kiện đã được thỏa thuận, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo sẽ họp với phía Pháp vào 12 giờ trưa. Người đề nghị thay từ “độc lập” bằng từ “tự do” trong văn bản hiệp định. Phía Pháp đồng ý và hai bên thông qua bản dự thảo Hiệp định Sơ bộ. Vì tình hình khẩn trương, lễ ký Hiệp định Sơ bộ tiến hành hồi 16 giờ 30 phút ngày 6-3-1946, tại 38 Lý Thái Tổ. Khi làm thủ tục ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Hoàng Minh Giám đọc bản dự thảo Hiệp định ghi bằng tiếng Pháp. Tham gia lễ ký về phía Pháp có Sainteny, Pignon, Caput, có sự chứng kiến của một số người nước ngoài có mặt ở Việt Nam như người Mỹ, Anh, Trung Hoa Dân quốc. Sau lễ ký, Sainteny nâng cốc chúc mừng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Cảm ơn ông. Nhưng thật ra, tôi chưa vừa lòng. Ông biết đấy, tôi muốn nhiều hơn, tôi muốn nước tôi độc lập, và chắc chắn nước tôi sẽ độc lập”.



