Bài viết

Hoàng Minh Giám trên cương vị “trợ lý ngoại giao” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức nghiêm trọng cả về đối nội và đối ngoại. Trước âm mưu tái xâm lược của thực dân Pháp và những biến động phức tạp của tình hình quốc tế, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triển khai đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và tranh thủ thời gian xây dựng, củng cố lực lượng về mọi mặt. Trong quá trình đó, nhiều trí thức yêu nước đã tham gia vào bộ máy chính quyền cách mạng và đóng góp tích cực cho hoạt động đối ngoại của Nhà nước. Trong số đó, Hoàng Minh Giám là một nhân vật tiêu biểu.

Lâm Đồng22/08/2026Trường Ngoại ngữ - ĐHTN (Trường Ngoại ngữ - ĐHTN)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với nhiều khó khăn nghiêm trọng. Ở trong nước, nền kinh tế kiệt quệ, nạn đói và nạn dốt hoành hành; ở ngoài nước, các thế lực đế quốc tìm cách can thiệp và thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị kế hoạch tái xâm lược. Trong bối cảnh đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triển khai đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt nhằm tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, đồng thời kéo dài thời gian hòa hoãn để xây dựng, củng cố lực lượng cách mạng. Việc triển khai đường lối đối ngoại này đòi hỏi sự tham gia của đội ngũ cán bộ, trí thức có trình độ, hiểu biết quốc tế và khả năng ngoại giao.

Trong số những trí thức yêu nước tham gia bộ máy chính quyền cách mạng thời kỳ đầu, Hoàng Minh Giám là một nhân vật tiêu biểu. Với vốn tri thức, khả năng ngoại ngữ và kinh nghiệm hoạt động xã hội, ông đã trở thành cộng sự gần gũi, nhiều lần tham gia hỗ trợ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các hoạt động ngoại giao quan trọng của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc nghiên cứu vai trò của Hoàng Minh Giám không chỉ góp phần làm rõ những đóng góp của một trí thức yêu nước đối với cách mạng Việt Nam mà còn giúp hiểu rõ hơn những đặc điểm của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đầu xây dựng chính quyền.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu. Phương pháp lịch sử nhằm tái hiện quá trình hoạt động của Hoàng Minh Giám trong bối cảnh lịch sử cụ thể của những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Phương pháp logic được sử dụng để phân tích và làm rõ vai trò và những đóng góp của Hoàng Minh Giám trong hoạt động ngoại giao của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như trong mối quan hệ công tác với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài ra, bài viết còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu tư liệu từ các công trình nghiên cứu, hồi ký, biên niên tiểu sử và các tài liệu lịch sử liên quan nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học của nội dung nghiên cứu.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Vài nét về cuộc đời và hoạt động của Hoàng Minh Giám trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Hoàng Minh Giám (1904-1995) quê ở xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông (nay là phường Đông Ngạc, thành phố Hà Nội). Sinh ra trong gia đình có truyền thống khoa bảng, giữ các chức vụ cao trong các triều đại phong kiến Việt Nam, cha ông là Phó bảng Hoàng Tăng Bí, một trong số những người sáng lập phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Trong thời gian học tại trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương khóa III, từ năm 1924 đến năm 1926, Hoàng Minh Giám tham gia tích cực trong các phong trào yêu nước. Sau khi tốt nghiệp, chính quyền thực dân Pháp đưa ông sang Phnômpênh, Campuchia giảng dạy tại Trường Lycée Sisowath nhằm cách ly ông với phong trào kháng Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục tuyên truyền lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia và lòng căm thù thực dân Pháp. Vì vậy, chỉ sau hai năm, chính quyền thực dân đã yêu cầu ông về nước với lý do vô kỷ luật và dạy sai chương trình. Về Sài Gòn, ông được giới thiệu đến dạy ở một số trường tư thục, vừa dạy học vừa tham gia viết bài cho một số tờ báo có xu hướng tiến bộ ở Sài Gòn, đặc biệt là tờ báo Cloche Fêlée (Tiếng chuông rè)L’Annam (Nước Nam). Sau đó một thời gian, có kẻ tố cáo ông là người bị Pháp đuổi việc nên ông đã dời Sài Gòn ra Hà Nội. Tại Hà Nội, ông dạy học, rồi làm Phó Hiệu trưởng trường tư thục Gia Long của một người Pháp tên là Belet. Khi giảng dạy, ông luôn truyền tinh thần yêu nước và tìm cách mở mang sự hiểu biết cho học sinh của mình. Với tinh thần yêu nước, ông tích cực tham gia phong trào cách mạng của giới trí thức tại Hà Nội. Năm 1934, ông cùng nhiều trí thức yêu nước và tiến bộ như Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Phạm Vũ Ninh… mở Trường Tư thục Thăng Long và ông là Hiệu trưởng. Đây là ngôi trường tập hợp nhiều trí thức yêu nước tiến bộ và có nhiều học sinh tích cực tham gia hoạt động yêu nước.

3.2. Hoàng Minh Giám với vai trò “trợ lý ngoại giao” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm 1945–1950

Trước khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, ngày 25-8-1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp đến báo cáo với Chủ tịch Ủy ban giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh về việc đổi tên Ủy ban Giải phóng dân tộc thành Ủy ban Cách mạng lâm thời (tức Chính phủ lâm thời) và danh sách một số trí thức được mời ra giúp Chính phủ, trong đó có Hoàng Minh Giám. Ngày 30-8-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thừa ủy quyền Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh số 01-SL của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bổ nhiệm Hoàng Minh Giám làm Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ. Lúc đó Văn phòng Chính phủ và một số cơ quan, trong đó có Bộ Nội vụ chuyển trụ sở đến Bắc Bộ Phủ, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc. Vì hằng ngày thường gặp và tiếp xúc với tân Đổng lý Văn phòng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy Hoàng Minh Giám có những tính cách phù hợp với công tác ngoại giao, còn Hoàng Minh Giám thì thấy: “Cụ Hồ nhạy cảm vô cùng, thông minh tuyệt vời và có những hiểu biết cực kỳ sâu rộng” (Trần Đương, 2005. tr 173). Hoàng Minh Giám được giao nhiệm vụ Thư ký để ghi biên bản các cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Ngoài ra, các cuộc tiếp xúc, đàm phán của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại diện nước ngoài tại Hà Nội, Hoàng Minh Giám đều được tham dự. Chiều ngày 1-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời hai người trong phái đoàn quân sự Mỹ là A.Patti và Grélecki dự bữa cơm thân mật trước ngày lễ Độc lập của Việt Nam tại Bắc Bộ phủ, cùng dự có Hoàng Minh Giám. Trong cuộc nói chuyện với A.Patti, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho A.Patti biết các yêu cầu của Chính phủ và nhân dân Việt Nam là muốn có một nền độc lập, không có sự cai trị của Pháp, có quyền sống tự do trong gia đình các nước trên thế giới và muốn được các chuyên gia kỹ thuật Mỹ giúp thiết lập một số cơ sở công nghiệp. Sau đó, Hoàng Minh Giám nêu thêm ý kiến: Việt Nam cần và muốn quyền tự do buôn bán, các cảng tự do và vốn của nước ngoài, kể cả vốn của Pháp, nhưng trước hết là vốn của Mỹ và buôn bán với Mỹ.

Ngày 15-10-1945, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Sainteny- đại diện Chính phủ Pháp và Caput- đại diện Đảng Xã hội Pháp, Hoàng Minh Giám cũng có mặt trong buổi tiếp khách này. Đó là cuộc tiếp xúc mở đầu cho một chuỗi các cuộc gặp gỡ, thảo luận cả bí mật và công khai kéo dài 6 tháng về việc Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam.

Trước khi tiến hành Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sainteny có những cuộc gặp riêng sau 20h, tại số 38 phố Lý Thái Tổ (Hà Nội). Những cuộc gặp riêng này, chỉ có Hoàng Minh Giám và Pignon cùng dự. Nội dung các cuộc gặp đều đi đến thỏa thuận chung, duy nhất có hai điểm bế tắc: Ta đòi Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập, Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ nằm trong một đất nước Việt Nam thống nhất nhưng phía Pháp chỉ công nhận ta là một quốc gia tự trị và Nam Kỳ là vùng đất thuộc địa của Pháp, vì vậy hai bên chưa thể ký một văn bản. Tháng 2-1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết, theo đó Trung Hoa dân quốc rút quân về nước để quân Pháp thay thế. Hạm đội Pháp bắt đầu kéo ra Bắc.

Ngày 2-3-1946, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa I, Hoàng Minh Giám được cử làm Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội, Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Ngày 5-3-1946, hạm đội Pháp đến Vịnh Hạ Long, ngày 6-3, hạm đội Pháp tiến vào Cửa Cấm, Hải Phòng và bắn nhau với quân Trung Hoa dân quốc. Tình hình vô cùng căng thẳng, nếu không dàn xếp được sẽ bùng nổ chiến tranh. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì một cuộc họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ để hoàn chỉnh dự thảo một văn bản để ký kết với Pháp. Tại cuộc họp này, Hoàng Minh Giám được cử làm thư ký. Sau khi Hội đồng bàn bạc và nhất trí quyết định sẽ ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp theo các điều kiện đã được thỏa thuận, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo sẽ họp với phía Pháp vào 12 giờ trưa. Người đề nghị thay từ “độc lập” bằng từ “tự do” trong văn bản hiệp định. Phía Pháp đồng ý và hai bên thông qua bản dự thảo Hiệp định Sơ bộ. Vì tình hình khẩn trương, lễ ký Hiệp định Sơ bộ tiến hành hồi 16 giờ 30 phút ngày 6-3-1946, tại 38 Lý Thái Tổ. Khi làm thủ tục ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Hoàng Minh Giám đọc bản dự thảo Hiệp định ghi bằng tiếng Pháp. Tham gia lễ ký về phía Pháp có Sainteny, Pignon, Caput, có sự chứng kiến của một số người nước ngoài có mặt ở Việt Nam như người Mỹ, Anh, Trung Hoa Dân quốc. Sau lễ ký, Sainteny nâng cốc chúc mừng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Cảm ơn ông. Nhưng thật ra, tôi chưa vừa lòng. Ông biết đấy, tôi muốn nhiều hơn, tôi muốn nước tôi độc lập, và chắc chắn nước tôi sẽ độc lập”. (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, 2016, T. 3, tr. 147).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn