vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2306  | 
| Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh« Trả lời #2 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:07:39 pm » | Năm 1974, ông làm Phó tư lệnh Khu 5, cuối năm ra Hà Nội dự họp bàn về kế hoạch giải phóng miền Nam của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Trong lúc này thế của ta đang lên và đang mạnh, địch ngày càng suy yếu. Đó là thời cơ để Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976 và nếu có thời cơ thì giải phóng miền Nam trong năm 1975. Ngay sau đó ông được dự họp hội nghị mở rộng của Quân ủy Trung ương để quán triệt và triển khai quyết định chiến lược của Bộ Chính trị "Chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Nam Tây Nguyên" và là nơi mở đầu cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975. Ông được giao nhiệm vụ là Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, đồng thời là Chỉ huy trưởng trận đánh Buôn Ma Thuột.
Đây là điều ông rất tâm đắc, chọn Tây Nguyên là nơi có dung lượng chiến trường lớn, vừa có rừng núi, vừa có cao nguyên, lại là nơi có đường chiến lược Hồ Chí Minh đi qua. Ở Tây Nguyên lại chọn Buôn Ma Thuột làm điểm đột phá là chính xác vì là nơi hiểm yếu. Điểm trúng cái huyệt đó thì toàn bộ Tây Nguyên và các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ sẽ rung chuyển. Mỗi khi nói về điều này, ông luôn nhắc tới sự sáng suốt của Bộ Chính trị, của Quân ủy Trung ương và đặc biệt là sự chỉ đạo tài tình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tạo thế cho Tây Nguyên mọi thuận lợi để giành chiến thắng một cách chắc chắn.
Đó là mưu kế chiến lược tạo ra một hình thế dàn trận chiến lược - bày binh bố trận, nhằm ghìm địch ở hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến là Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng để tạo thế phá vỡ Tây Nguyên, sau đó tạo lực bất ngờ bằng cách tăng thêm cho Tây Nguyên 2 sư đoàn. Theo ông nói: Đưa bí mật đột ngột 2 sư đoàn lên Tây Nguyên là cái nút của cuộc chiến tranh, là mưu hay của ta, của Bộ thống soái mà trực tiếp là Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người đã có kinh nghiệm tác chiến lớn, người có trình độ chỉ huy các chiến dịch lớn, người có tri thức chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành.
Lực lượng được tăng cường và bố trí hợp lý, mưu kế của ông và Bộ tư lệnh chiến dịch nhằm chuyển hoá thế trận: ta yếu thành mạnh, còn địch mặc dù về tổng thể thì mạnh hơn ta. Bằng cách nghi binh lừa địch, ta đánh thật nhưng mà là "thật giả" ở Plây Cu, đã điều được địch trở về Plây Cu. Sau đó lập tức chia cắt đường tạo thế cô lập Buôn Ma Thuật. Khi địch mắc vào mưu kế đó, thì ta liền tập trung lực lượng nhanh chóng phá vỡ Buôn Ma Thuột và đón đánh quân phản kích thắng lợi, tạo ra đột biến về chiến dịch. Đòn điểm huyệt thắng lợi buộc địch phải rút chạy khỏi Plây Cu, Kon Tum. Quân ta liền truy kích và tiêu diệt hoàn toàn quân địch tháo chạy, tạo ra đột biến về chiến lược. Chiến dịch đang thắng lợi trở nên thắng lợi rất lớn, thắng lợi một cách đột ngột, rất nhanh. Địch hoang mang dao động mất tinh thần, không còn khả năng chống đỡ, suy sụp về chiến lược, phản ứng dây chuyền đó đã tạo ra đột biến về chiến tranh.
Nói về sự kiện này, ông kể: Trước khi rời Hà Nội vào chiến trường, lúc chia tay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có căn dặn: "Nếu địch bị thua đau, bị mất Buôn Ma Thuột thì có khả năng chúng sẽ co cụm về các tỉnh ven biển miền Trung". Quả nhiên, thế trận diễn ra đúng như vậy. Vì thế ông thường nói: Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên là sự thắng lợi của mưu kế, của sự đấu mưu đấu trí với địch, tất nhiên phải có công cụ chiến đấu, có tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ trên chiến hào và phải dựa vào thế trận lòng dân. Nếu không có thế trận lòng dân thi làm sao ta lập được thế trận ghìm địch ở hai đầu Nam Bắc chiến tuyến, rồi nghi binh lừa địch, chia cắt địch... Từ thực tiễn chiến đấu, đến lý luận quân sự được ông khái quát :
Mưu cao nhất là mưu lừa địch, Kế hay nhất là kế điều địch, Thế tốt nhất là thế chia cắt địch, Thời đẹp nhất là lúc địch ít phòng bị. Mưu sinh ra kế - thế đẻ ra thời, Đánh bằng mưu kế - thắng bằng thế thời.
Theo ông, kế hoạch tác chiến càng công phu kỹ lưỡng bao nhiêu thì thắng lợi càng dễ bấy nhiêu, thế trận càng phức tạp thì tình huống diễn ra càng giản đơn và ông coi đó là biện chứng pháp trong nghệ thuật chỉ huy cũng như nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh.
Suốt trên chặng đường trường chinh góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, hành trang ông mang theo là những trang sách mà trong đó chứa đựng hồn non nước, những điều mà ông tâm đắc:
Trần Hưng Đạo - Đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có luỹ, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa bay trên không.
- Bở chỗ thực đánh vào chỗ hư, đó là cái diệu của việc binh.
Nguyễn Trãi - Thời thời thực không nên lỡ.
- Bốn phương dân cày tập hợp. Rượu hoà nước, dưới trên cùng một bụng cha con.
- Bở chỗ thực đánh chỗ hư, bở chỗ mạnh đánh chỗ yếu, thì sức dùng một nửa mà công được gấp đôi.
- Lấy yếu chống mạnh, hay đánh bất ngờ; Lấy ít địch nhiều, thường dùng mai phục.
- Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hoá ra lớn; Mất thời không thế thì mạnh hoá ra yếu, an lại thành nguy. Hồ Chí Minh Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ, Kiên quyết không ngừng thế tiến công. Lạc nước hai xe đành bỏ phí, Gặp thời một tốt củng thành công.
- Quả cân chỉ một ki-lô-gam ở vào thế có lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được vật nặng hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực.
- Nước lấy dân làm gốc, quần chúng là gốc của cách mạng. Cách mạng cũng như chiến tranh cách mạng, là sự nghiệp của quần chúng.
Chiến thắng Tây Nguyên đã được ông vận dụng từ những triết lý đó. Từ chiến thắng Tây Nguyên đã tạo thế cho chiến dịch gối đầu Huế - Đà Nẵng đến Chiến dịch Hồ Chí Minh kế tiếp được mở ra nhanh chóng. Trong một thời gian ngắn, bằng ba đòn chiến lược Tây Nguyên - Huế, Đà Nẵng - Sài Gòn, cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975 đã giành được thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Năm 1976, ông lại trở về công việc nghiên cứu và giảng dạy với cương vị Viện trưởng Học viện Lục quân và có một thời gian ông học tập ở Liên Xô. Tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV, ông được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 1977, ông làm Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nay là Học viện Quốc phòng.
Năm 1990, ông làm Viện trưởng Viện chiến lược Bộ Quốc phòng. Đến năm 1995, nghỉ làm công tác quản lý, nhưng ông vẫn tham gia rất nhiều công việc như: giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu sinh, hội thảo khoa học, viết sách viết báo, các công trình nghiên cứu về khoa học và nghệ thuật quân sự, v.v...; ngoài ra còn giữ các chức danh như: Ủy viên Hội đồng xét duyệt học hàm, học vị; Hội đồng chỉ đạo Bách khoa thư. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử và nghệ thuật quân sự được xuất bản từ năm 1958. Có những cuốn sách ông viết và xuất bản ngay trên chiến trường đã trở thành cẩm nang cho cán bộ chiến sĩ trước khi ra trận như cuốn: Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc (1969, 1971), Sự thất bại của sức mạnh phi nghĩa (1974), Cách dùng binh (1975),... Trong số đó có 8 cuốn sách là một Cụm công trình được Hội đồng xét giải thướng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đánh giá là: "Đặc biệt xuất sắc, có giá trị cao về khoa học công nghệ đã được công bố, sử dụng từ ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân, khoa học công nghệ trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc". Cụm công trình này đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ năm 2005 theo Quyết định số 971/2005/QĐ-CTN ngày 30 tháng 8 năm 2005 do Chủ tịch nước ký. Đến nay số đầu sách của ông đã có hơn 15 cuốn, ông vẫn còn muốn viết nhiều hơn nữa, để đóng góp vào nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam, cũng như những vấn đề mà ông cho rằng dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều huân chương cao quý khác và được phong hàm Giáo sư, danh hiệu Nhà giáo nhân dân. 60 tuổi Đảng, dù ở bất kỳ cương vị nào ông đều luôn giữ vững danh hiệu "Bộ đội Cụ Hồ", sống một cuộc đời trong sạch, giản dị, sâu nặng nghĩa tình đồng chí đồng đội, tình quê hương làng xóm của người đảng viên gương mẫu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Ông thực sự là vị tướng của nhân dân. |