Hoàng Như Tiếp – người dựng hội trường bí mật giữa rừng cho Đại hội II
Giữa chiến khu Việt Bắc năm 1950, kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp nhận một nhiệm vụ đặc biệt: dựng nơi tổ chức Đại hội II của Đảng đủ rộng cho hàng trăm đại biểu nhưng phải ẩn mình hoàn toàn dưới tán rừng. Từ tre, gỗ và lá cọ, ông cùng đồng đội tạo nên một công trình mà kiến trúc trở thành một phần của công tác bảo vệ bí mật.
Tháng 10 năm 1950, trên đồi Nà Loóng ở xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, một công trường đặc biệt bắt đầu hoạt động dưới những tán cọ, dẻ, lát và sui.
Hơn 300 học viên Trường Nguyễn Ái Quốc cùng bộ đội và nhân dân địa phương lên đồi chặt cây, vận chuyển vật liệu, dựng nhà. Các hộ dân sống trong khu vực được bố trí chuyển đi nơi khác. Người ngoài chỉ được biết nơi đây đang xây dựng cơ sở thứ hai của nhà trường. Ngay cả nhiều người trực tiếp góp tre, góp gỗ và làm đường cũng không biết sự kiện nào sẽ diễn ra trên ngọn đồi ấy.
Công trình thực sự được chuẩn bị để đón Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng.
Nhiệm vụ thiết kế và tổ chức xây dựng được giao cho hai kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp và Bạch Di. Yêu cầu đặt ra tưởng như mâu thuẫn: khu hội trường phải đủ sức phục vụ một đại hội lớn, nhưng máy bay trinh sát nhìn từ trên xuống không được phát hiện; người đứng ngoài khu vực cũng không thể quan sát thấy công trình.
Đối với Hoàng Như Tiếp, đây không còn là việc vẽ một ngôi nhà. Ông phải dùng kiến trúc để giải quyết đồng thời ba bài toán: công năng, bí mật và an toàn.
Khu đất được lựa chọn nằm trên đồi Nà Loóng, lọt giữa rừng cây. Địa hình và thảm thực vật tự nhiên trở thành lớp ngụy trang đầu tiên. Thay vì san phẳng cả khu đồi, những người xây dựng giữ lại tối đa cây rừng và bố trí các công trình xen dưới tán lá. Tre, gỗ, nứa và lá cọ có thể lấy tại chỗ, dễ vận chuyển, thi công nhanh và không tạo nên những mảng mái khác lạ khi quan sát từ trên cao.
Trung tâm của khu vực là hội trường lớn, được dựng theo hình quả trám, hai đầu thu hẹp. Sân khấu đặt ở một đầu và nhìn thẳng ra cửa chính. Các hàng ghế không xếp thành những đường ngang cứng nhắc mà mở theo hình rẻ quạt, hướng về đoàn chủ tọa. Cách bố trí ấy giúp đại biểu quan sát thuận lợi, đồng thời tận dụng tốt diện tích bên trong một công trình làm chủ yếu bằng vật liệu địa phương.
Bên phải sân khấu có phòng nhỏ để chứa đồ dùng phục vụ đại hội. Cuối hội trường, ở vị trí cao hơn khu ghế đại biểu, là hai khán phòng dành cho khách quốc tế và phóng viên. Chung quanh hội trường còn có nhà nghỉ của lãnh đạo, đại biểu, cán bộ phục vụ và lực lượng bảo vệ.
Toàn bộ khu nhà không phô ra khỏi rừng mà hòa vào địa hình. Mái lá cọ nằm dưới màu xanh của cây. Những con đường dẫn vào được kiểm soát bằng nhiều vòng bảo vệ kéo dài hàng chục kilômét. Tài liệu của đại hội được chuẩn bị tại xã Kiên Đài, cách địa điểm họp hơn 20 kilômét, nhằm tránh tập trung mọi hoạt động quan trọng vào một chỗ.
Người kiến trúc sư khi ấy phải tính đến cả những điều không thường xuất hiện trên bản vẽ: một mái nhà có thể bị phát hiện từ độ cao nào, lối đi nào phải được che kín, công trình nên né cây hay giữ cây lại làm bình phong, và làm thế nào để hàng trăm người làm việc trong rừng mà không để lộ mục tiêu thật sự.
Ngày 11 tháng 2 năm 1951, hội trường giữa rừng đón 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho 766.349 đảng viên. Đại hội làm việc đến ngày 19 tháng 2. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1935 Đảng tổ chức một đại hội đại biểu toàn quốc, đồng thời là đại hội duy nhất diễn ra trong nước giữa thời kỳ chiến tranh.
Tại nơi Hoàng Như Tiếp và đồng đội dựng nên, Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam; bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng và Trường Chinh làm Tổng Bí thư. Cũng trong khu vực này, chủ trương xuất bản Báo Nhân Dân được bàn bạc và quyết định.
Sau đại hội hơn một năm, địa điểm bị mật thám phát hiện và máy bay Pháp ném bom. Những công trình bằng tre gỗ dần hư hỏng, nhiều dấu tích ban đầu không còn. Nhưng trong những ngày sự kiện diễn ra, hệ thống ngụy trang và bảo vệ đã hoàn thành nhiệm vụ: một cuộc họp có hàng trăm đại biểu cùng lực lượng phục vụ vẫn được giữ kín giữa chiến khu.
Công trình Nà Loóng là một lát cắt tiêu biểu trong cuộc đời Hoàng Như Tiếp.
Ông sinh năm 1910 tại làng Nam Phổ Thượng, huyện Phú Vang. Năm 1927, ông rời Huế ra Hà Nội học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau khi tốt nghiệp, ông cùng các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện và Nguyễn Gia Đức mở văn phòng Luyện–Tiếp–Đức tại phố Tràng Thi. Trong những năm 1936–1939, nhóm công bố mẫu “Nhà Ánh sáng” dành cho người lao động nghèo ở khu Phúc Xá ven sông Hồng—một dấu hiệu sớm cho thấy mối quan tâm của Hoàng Như Tiếp đối với kiến trúc phục vụ đời sống bình dân.
Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông rời Hà Nội lên Việt Bắc. Tháng 4 năm 1948, tại Thản Sơn, Vĩnh Phúc, Hoàng Như Tiếp cùng bảy đồng nghiệp thành lập Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam, tiền thân của Hội Kiến trúc sư Việt Nam. Trong chiến khu, các kiến trúc sư không có bê-tông, thép hay những văn phòng thiết kế đầy đủ. Họ làm lễ đài, trường học, trạm xá, nhà thông tin và trụ sở bằng những vật liệu có thể tìm thấy ngay trong rừng.
Sau năm 1954, Hoàng Như Tiếp tiếp tục đặt nền móng cho ngành quy hoạch của nước Việt Nam mới. Ông giữ chức Quyền Cục trưởng Cục Đô thị – Nông thôn năm 1960, rồi trở thành Viện trưởng đầu tiên của Viện Quy hoạch Đô thị – Nông thôn trong giai đoạn 1962–1971. Ông tham gia hoặc chủ trì nhiều đồ án dành cho Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Thái Nguyên và Việt Trì.
Một trong những công trình nổi tiếng của ông là Bảo tàng Việt Bắc, nay là Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Thái Nguyên. Công trình được khởi công năm 1960, kết hợp không gian kiến trúc với cảnh quan và các mô-típ trang trí của đồng bào miền núi. Ông còn thiết kế Bảo tàng Kim Liên ở Nam Đàn và nghiên cứu quy hoạch vùng nông thôn Tam Thiên Mẫu.
Từ kiểu nhà dành cho người nghèo ở Phúc Xá đến hội trường bí mật trên đồi Nà Loóng, rồi những đồ án quy hoạch đô thị và nông thôn, con đường nghề nghiệp của Hoàng Như Tiếp có một sợi dây xuyên suốt: kiến trúc phải bắt đầu từ hoàn cảnh sống thật của con người.
Hội trường Đại hội II không còn nguyên vẹn như buổi đầu. Khu di tích ngày nay là công trình được phục dựng. Nhưng câu chuyện về nó vẫn cho thấy một điều đáng nhớ: trong kháng chiến, người kiến trúc sư cũng có mặt trên một trận tuyến. Bản vẽ của họ không chỉ tạo nên mái nhà; đôi khi, chính mái nhà âm thầm dưới tán cọ đã bảo vệ nơi những quyết định lớn của đất nước được hình thành.



