Bài viết

Hoàng Quốc Việt

Bắc Ninh18/08/2026xã Trường Xuân (Xã Trường Xuân)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hoàng Quốc Việt, tên thật là Hạ Bá Cang, ông sinh ngày 28 tháng 5 năm 1905 tại xã Đáp Cầu, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh). Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời ông cũng là một trong những công nhân cách mạng đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam.

Đồng chí Hoàng Quốc Việt (1905 - 1992)

Năm 1922, ông học ở trường Kỹ nghệ thực hành Hải Phòng. Khi ở Hải Phòng, ông tham gia các phong trào đấu tranh của học sinh, thanh niên, thợ thuyền đất cảng. Năm 1925, đang học năm thứ 3, ông tham gia bãi khóa biểu tình đấu tranh đòi Nhà nước bảo hộ Pháp bỏ án tử hình đối với nhà cách mạng yêu nước Phan Bội Châu và ông bị đuổi học. Ông rời Hải Phòng bước vào cuộc đời công nhân, ông từng làm thợ nguội tại các mỏ than Phấn Mễ ở Thái Nguyên, Mạo khê ở Hòn Gai, nhà máy sửa tàu thủy Ca Rông ở Hải Phòng. Tháng 7 năm 1928 ông ra nhập đội ngũ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Trong quá trình vận động tuyên truyền cách mạng trong công nhân, ông có quan hệ khá mật thiết với đồng chí Nguyễn Đức Cảnh và đồng chí Ngô Gia Tự. Ông bị mật thám Pháp theo dõi và bị đuổi việc. Sau đó ông được phân công vào Nam Bộ. Ở Nam Bộ ông tham gia vận động tuyên truyền trong công nhân và ông xin làm thợ máy cho tàu Chantilly với mục đích có điều kiện đi sang Pháp để mở rộng quan hệ với giai cấp công nhân Pháp. Năm 1929, ông ra nhập Đông Dương Cộng sản Đảng. Đầu năm 1930, ông ra Bắc để dự Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản và ông đã bị bắt tại Hải Phòng. Mật thám Pháp tra tấn ông bằng nhiều cực hình để khai thác bí mật của tổ chức Đảng nhưng vẫn không khuất phục được ông. Tại Hội nghị hợp nhất Đảng Cộng sản, dù ông đã bị bắt nhưng vẫn được Hội nghị bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, đó là sự tin cậy của Đảng đối với ông. Khi đó tòa án thực dân Pháp kết án tù trung thân và đày ông ra Côn Đảo cùng với các Đảng viên cộng sản như : Các đồng chí Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Lương Khánh Thiện, Phạm Văn Đồng…Tại Côn Đảo ông cùng các đồng chí trong Đảng tiến hành xây dựng tổ chức Đảng trong tù, thực hiện việc “Biến nhà tù thành trường học cách mạng”. Năm 1936, ông được trả tự do. Về Hà Nội ông bắt liên lạc với tổ chức và tham gia hoạt động đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ trong thời kỳ mặt trận dân chủ cùng với đồng chí Trường Chinh, đồng chí Lương Khánh Thiện phát triển hệ thống tổ chức của Đảng, cơ sở cách mạng tại Bắc Bộ. Ông cùng với các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu, Trường Chinh hoạt động báo chí công khai. Năm 1937, ông được giao nhiệm vụ làm Bí thư xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 1941, ông tham gia Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng do Chủ tích Hồ Chí Minh chủ trì tại Cao Bằng. Hội nghị quyết định thành lập Thường vụ Ban chấp hành Trung ương do Tổng bí thư Trường Chinh đứng đầu, ông và đồng chí Hoàng Văn Thụ là Ủy viên. Từ năm 1941 đến tháng 8 năm 1945, ông cùng Thường vụ Trung ương đã lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền vào tháng Tám năm 1945.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Hoàng Quốc Việt tại Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao (khi đồng chí giữ chức Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao).

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được cử vào Nam Bộ công tác cùng xứ ủy Nam Bộ tiến hành củng cố chính quyền cách mạng các cấp, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong kháng chiến chống Pháp ông phụ trách công tác Mặt trận. Năm 1951, tại Đại hội II Đảng Cộng sản Việt Nam, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, Trưởng ban Dân vận Mặt trận và giữ cương vị Chủ Tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1960 ông được bầu vào làm Viện Trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, tham gia Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội trưởng Hội Hữu nghị Việt – Trung. Tháng 12 năm 1976, trong Đại hội IV Đảng Cộng sản Việt Nam, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và ông tiếp tục giữ nhiều chức vụ: Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977), Chủ tịch danh dự Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1983), là Đại biểu Quốc hội vào các khóa V, VI, VII, VIII.

Đồng chí Hoàng Quốc Việt (áo màu đen) về thăm chiến khu Việt Bắc, năm 1977.

Ông mất vào ngày 25 tháng 12 năm 1992 tại Hà Nội. Đồng chí Hoàng Quốc Việt đã đóng góp rất lớn cho cách mạng Việt Nam và đã được Nhà nước tặng Huân chương Sao Vàng và nhiều phần thưởng cao quí khác.

Tại các tỉnh thành phố trong cả nước đều có đường mang tên ông, ở Thành phố Bắc Ninh quê hương của ông cũng có một công viên và tượng đài mang tên Hoàng Quốc Việt để tưởng nhớ đến ông.

Lê Thị Huệ (Tổng hợp)

Nguồn:

- Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Đinh Xuân Lâm. Nxb Giáo Dục.

- Côn Đảo- Ký sự và tài liệu. Ban liên lạc tù chính trị- Sở VHTT. Nxb Trẻ t/p Hồ Chí Minh,1996.

- Những tù nhân Côn Đảo. Nxb Thanh Niên.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn