Hoàng Quốc Việt – Nhà lãnh đạo cách mạng kiên trung (1)
Đồng chí Hoàng Quốc Việt, tên khai sinh là Hạ Bá Cang (thường gọi là Sáu Cang), sinh ngày 28/5/1905 tại làng Đáp Cầu, tổng Đỗ Xã, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, nay là phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Ông là con út trong gia đình có 7 người con. Thân phụ là cụ Hạ Bá Khoát, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Cẫy.
1. Đồng chí Hoàng Quốc Việt - Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, có công lao, đóng góp quan trọng trong việc cũng cố tổ chức đảng ở miền Bắc và chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám thành công
Thời niên thiếu, cuộc sống tuy khó khăn, vất và nhưng sự yêu thương, giáo dục của gia đình đã rèn luyện cho Hoàng Quốc Việt phẩm chất cần cù, chịu khó, ham học và sự đồng cảm sâu sắc với thân phận lam lũ của người lao động. Tỉnh thần yêu nước, thương dân biến thành hành động. Hoàng Quốc Việt cùng nhóm học sinh yêu nước trường Bách Nghệ Hải Phòng tham gia phong trào bãi khóa, biểu tình đòi thực dân Pháp thả nhà yêu nước Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Châu Trinh.
Khi phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp lan rộng, Hoàng Quốc Việt đã tham gia các tổ chức cách mạng tiền thân, đi theo con đường cách mạng vô sản do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền bá. Hoàng Quốc Việt là một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ năm 1930 - thời điểm đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Với lòng nhiệt huyết và phẩm chất của người cán bộ cách mạng, Hoàng Quốc Việt nhanh chóng trở thành cán bộ chủ chốt của phong trào công nhân, tích cực xây dựng và khôi phục các tổ chức đảng ở miền Bắc trong giai đoạn bị đàn áp sau phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Hoàng Quốc Việt nhận thức sâu sắc rằng chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mới giải phóng được dân tộc, mang lại hạnh phúc cho Nhân dân. Năm 1930, đồng chí Hoàng Quốc Việt bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà lao ở Hải Phòng, sau đó bị đày ra nhà tù Côn Đảo. Dù bị đánh đập, tra tấn dã man, đồng chí Hoàng Quốc Việt vẫn giữ vũng khí tiết của người cộng sản, biến lao tù đế quốc thành trường học, tuyên truyền, vận động cách mạng. Sự ra đời của tờ báo Ý kiến chung do đồng chí Hoàng Quốc Việt phụ trách tập hợp các bài viết phản ánh những khẩu hiệu và yêu sách của cuộc đấu tranh trong tù, được anh em tù nhân tích cực tham gia, hưởng ứng, không chi góp phần cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần mà còn nâng cao trình độ văn hóa, chính trị, rèn luyện chí khí của người cộng sản, đồng thời cảm hóa, làm thay đổi tư tưởng và lập trường của một số tù nhân theo Quốc dân đảng lúc bấy giờ. Đồng chí Hoàng Quốc Việt trở thành tấm gương sáng về tinh thần kiên trung, bất khuất, không lùi bước trước gian nan, thử thách, tuyệt đổi trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Những năm 1932-1935 là thời kỳ đầy khó khăn của cách mạng Việt Nam do chính sách khủng bố trắng của địch, đồng chí Hoàng Quốc Việt trở thành hạt nhân hoạt động tích cực, hiệu quả trong quá trình tái lập Đảng bộ Hải Phòng, tạo điều kiện, cơ sở cùng với một số địa phương khác tiến tới tái lập Xứ ủy Bắc Kỳ.
Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936 - 1939, báo chí được coi là một công cụ đắc lực phục vụ mục tiêu đấu tranh đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo và hòa bình, đồng chí Hoàng Quốc Việt được Đảng giao nhiệm vụ chỉ đạo các hoạt động báo chí giữ đúng tôn chỉ, mục đích; lĩnh hội chủ trương của Đảng để quán triệt trong giới làm báo, ngăn chặn sự xuyên tạc, phá hoại báo chí cách mạng; tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân đối với nền báo chí của Đảng; phát động đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ. Là một thành viên quan trọng trong cơ quan báo chí công khai của Đảng, đồng chí Hoàng Quốc Việt không chỉ góp phần to lớn vào việc tuyên truyền, tập hợp, tổ chức, xây dựng lực lượng cách mạng, cổ vũ Nhân dân đấu tranh mà còn góp phần tác động, làm thay đổi lập trường, quan điểm của nhiều tờ báo lúc bấy giờ, đồng thời đào tạo lực lượng cán bộ làm công tác báo chí cho Đảng. Với những công lao to lớn đó, cuối năm 1937, đồng chí Hoàng Quốc Việt được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Đồng chí trở thành người chủ chốt xây dựng tổ chức đảng, xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức Nhân dân đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt, mang lại hiệu quả thiết thực trên địa bàn các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang.
Năm 1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Với tư cách là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho việc tổ chức Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Tại Hội nghị, Đồng chỉ tiếp tục được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Sau Hội nghị, Đồng chí tích cực truyền đạt nghị quyết Hội nghị, chương trình, điều lệ của Việt Minh; xây dựng và kiện toàn tổ chức Đảng; thực hiện công tác vận động quần chúng nhân dân ở Hà Nội và các vùng lân cận như Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa... Đồng chí đã cùng các đồng chí trong Ban thường vụ, Ban chấp hành Trung ương ngày đêm lăn lộn với phong trào, vượt qua sự khủng bố ác liệt của kẻ thủ, bám sát tình hình, đưa ra những chủ trương chỉ đạo kịp thời, xây dựng Mặt trận Việt Minh, phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt, đưa phong trào kháng Nhật cứu nước phát triển dần thành cao trào, tiến tới Tổng khởi nghĩa Tháng 8 - 1945 lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân.
2. Đồng chí Hoàng Quốc Việt - Người có những đóng góp quan trọng đối với ngành Công đoàn, Kiểm sát, Dân vận và Mặt trận của Đảng
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn vừa giữ vững, củng cố chính quyền, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Là lãnh đạo tiền bối tiêu biểu, lập trường quan điểm vững vàng, tác phong làm việc sâu sát, gần gũi, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiều nhiệm vụ quan trọng. Dù cùng một lúc đảm đương nhiều cương vị, trọng trách, nhưng trong điều kiện, hoàn cảnh nào Đồng chí cũng luôn tận tâm, tận lực với công việc và đã có nhiều công lao, đóng góp lớn cho Đảng, cho cách mạng Việt Nam.
Trên cương vị là Chủ tịch Tổng Liên đoàn, đồng chí Hoàng Quốc Việt luôn luôn trăn trở việc xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn vững mạnh, đủ sức làm chỗ dựa đắc lực của Đảng và Nhà nước trong công cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng chí đã cùng các cán bộ chủ chốt Tổng Liên đoàn tổ chức nghiên cứu lý luận Mác - Lênin về công đoàn, dự thảo văn kiện và được Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 67 về “Tăng cường công tác vận động công nhân và hoạt động công đoàn trong tình hình mới”.
Trong quá trình lãnh đạo, vận động, tổ chức giai cấp công nhân, hoạt động công đoàn, Đồng chí luôn tin tường vào sức mạnh của giai cấp công nhân, xác định tổ chức công đoàn phải có nhiều hình thức thiết thực, cụ thể và linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn, từng điều kiện cụ thể để động viên, khuyến khích khơi dậy tiềm năng to lớn, phong phú, đa dạng của công nhân viên chức.
Để công đoàn có cơ sở pháp lý hoạt động, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã cùng với tập thể Đảng đoàn kiến nghị với Đảng, Chính phủ, Quốc hội nghiên cứu ban hành Luật Công đoàn và được kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa I thông qua ngày 14/9/1957, xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn Việt Nam trong chế độ dân chủ nhân dân.
Là người đứng đầu tổ chức Công đoàn Việt Nam, đồng chí Hoàng Quốc Việt còn tích cực tham gia và có nhiều đóng góp cho các hoạt của Công đoàn thế giới, được bầu vào Ban Thường vụ Liên hiệp Công đoàn thế giới (10/1969). Bằng sự nỗ lực của mình, hoạt động quốc tế của Công đoàn Việt Nam đứng đầu là đồng chí Hoàng Quốc Việt đã góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, tuyên truyền cho công nhân lao động các nước hiểu, giúp đỡ, ủng hộ phong trào công nhân, Công đoàn Việt Nam trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Đồng thời, thông qua hoạt động quốc tế đã góp phần tăng cường các hoạt động trao đổi kinh nghiệm trên nhiều lĩnh vực giữa công đoàn Việt Nam với phong trào công nhân, Công đoàn quốc tế, đặc biệt là với Công đoàn các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong 16 năm (1960 - 1976) giữ chức vụ Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã đặt nền móng cho việc củng cố và phát triển ngành Kiểm sát nhân dân trong hệ thống bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là việc xây dựng Viện kiểm sát nhân dân từ Trung ương đến các địa phương để thực hiện chức năng kiểm sát việc chấp hành pháp luật và thực hành quyền công tố làm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Đồng chí đã cùng tập thể lãnh đạo của ngành tập trung giải quyết 3 vấn đề lớn: một là, xác định đường lối, quan điểm, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân; hai là, xây dựng một đội ngũ cán bộ tuyệt đối trung thành với Đảng, với sự nghiệp của Đảng, sự nghiệp của nhân dân; ba là, xây dựng mối quan hệ Đảng lãnh đạo ngành Kiểm sát và mối quan hệ công tác giữa Kiểm sát với các ngành hữu quan nhất là đối với hệ thống hành pháp. Cùng với đó, có những chủ trương đúng đắn, định hướng quan trọng có ý nghĩa quyết định trong việc chỉ đạo công tác kiểm sát, nhằm phục vụ tốt những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, góp phần củng cố trật tự kỷ cương pháp luật; trong việc xác lập và tăng cường nền pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta và trong hoạt động thực tiễn; luôn quan tâm đến công tác quần chúng, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động.
Với cương vị là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, phụ trách công tác Dân vận, Mặt trận từ năm 1947 và trực tiếp làm Chủ tịch và Chủ tịch danh dự Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1976 đến lúc qua đời. Đồng chí Hoàng Quốc Việt đã có nhiều cống hiến cho công tác Dân vận, Mặt trận một trong những hoạt động quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, đánh Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng chí đã tham mưu, đề xuất với Trung ương và trực tiếp tham gia xây dựng chủ trương chính sách lớn về công tác Mặt trận. Đồng chí đã có những đóng góp to lớn trong mở rộng việc tập hợp, đoàn kết các nhân vật tiêu biểu của các dân tộc, các chức sắc tôn giáo, các nhân sĩ, trí thức vì lợi ích tối cao của dân tộc. Năm 1946, để mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí đã cùng một số đồng chí khác mời Vĩnh Thụy (cựu hoàng Bảo Đại), Giám mục địa phận Phát Diệm Lê Hữu Từ ra làm Cố vấn Chính phủ; vận động Vương Chí Sình, một người có uy tín lớn ở Hà Giang ra ứng cử đại biểu Quốc hội...
Từ tháng 5/1946, nước ta có hai Mặt trận dân tộc thống nhất cùng tồn tại và phát triển đó là Mặt trận Liên Việt và Việt Minh. Việc làm cho Nhân dân hiểu rõ đường lối của Đảng “Một dân tộc, một mặt trận thống nhất” và thống nhất hai Mặt trận trở thành yêu cầu cấp thiết. Tháng 3/1951, Đại hội thống nhất Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Việt Minh được tổ chức tại Tuyên Quang, nhất trí lấy tên là Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Việt Minh) với nhiều đóng góp quan trọng của đồng chí Hoàng Quốc Việt.
Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân ta đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, yêu cầu thống nhất đất nước về mặt Nhà nước được đặt ra một cách cấp thiết. Trong bối cảnh đất nước sau hơn 20 năm tạm thời bị chia cắt, đây là một việc làm không dễ dàng vì trong mỗi đoàn thể quần chúng ở miền Nam đều có đông các nhân sĩ, trí thức, chức sắc các tôn giáo, người ngoài đảng... Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Xuân Thủy và đồng chí Hoàng Quốc Việt (từ tháng 6/1976 đến tháng 2/1977) tại thành phố Hồ Chí Minh, lần lượt các đoàn thể Thanh niên, Công đoàn, Hội liên hiệp Phụ nữ và Mặt trận Tồ quốc đều được thống nhất làm một.
Đồng chí Hoàng Quốc Việt đã góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân làm nên điều kỳ diệu và độc đáo trong lịch sử cách mạng Việt Nam là đưa đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ một tư tưởng lớn trở thành một bộ phận hữu cơ trong đường lối chiến lược của Đảng, đã làm cho hàng triệu triệu con người thấm 6 nhuần một cách tự nhiên và sâu sắc tư tưởng đó, biến thành tình cảm và hành động tự giác của mình, thành động lực để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.


