Hoàng Tăng Bí (1883-1939) - “nhà yêu nước nhiệt thành, vị túc nho uyên thâm”
Cụ Phó bảng cất tiếng khóc chào đời năm 1883 tại làng Đông Ngạc, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, nay thuộc quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Đất Đông Ngạc có truyền thống hiếu học và gia tộc họ Hoàng có nhiều người đỗ đại khoa. Cụ Hoàng Đình Hân (1715- 1789) nguyên ở đất Đông Bình, huyện Gia Bình trấn Kinh Bắc (nay là huyện Gia Lương, Hà Bắc) làm quan tới chức Đặc tiến kim tử Vĩnh lộc đại phu, được phong tước Gia Diễn hầu. Hoàng Nguyễn Thự là con trưởng của cụ, sinh năm 1749 tại phường Đông Các, huyện Thọ Xương. Năm 1778, Hoàng Nguyễn Thự lấy con gái yêu của thầy dạy - cụ Giải nguyên Phạm Gia Huệ là bà Phạm Thị Hội ở thôn Đông Ngạc. Từ đó, đất Đông Ngạc trở thành quê hương của một chi họ Hoàng và họ Hoàng đã góp phần làm rạng danh đất Đông Ngạc khoa bảng. Năm 1787, cụ Hoàng Nguyễn Thự đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Mùi - khoa thi cuối cùng của triều Lê, sau đó cụ được triều Tây Sơn cử giữ chức Hiệp trấn Lạng Sơn (1797-1801) và mất tại đây. Cụ để lại cho đời hai tác phẩm thơ Di thảo tập thượng và Di thảo tập hạ, thể hiện lòng yêu nước, yêu quê hương sâu sắc. Cụ được coi là Tổ của họ Hoàng ở Đông Ngạc.
Nối nghiệp cha, con trai út của cụ là Hoàng Tế Mỹ (1795-1849) đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Bính Tuất (1826). Cụ làm quan trải ba đời vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức và được thăng tới chức Tham tri Bộ Binh; khi mất được truy tặngThượng thư Bộ Lễ. Trước khi mất, ngôi nhà của tổ tiên để lại, cụ Hoàng Tế Mỹ đã sửa khang trang để thờ cúng, nên cổng nhà thờ có đại tự “Đông Hoàng Tổ miếu”, đến nay vẫn còn.
Đời nối đời, con trai cả của cụ Hoàng Tế Mỹ là Hoàng Tướng Hiệp (1835-1885) đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Ất Sửu (1865), làm Án sát xứ Lạng Sơn rồi Tuần phủ Tuyên Quang (1877), sung tham tán quân vụ đại thần. Hoàng Tăng Bí là đời thứ 5 của gia tộc họ Hoàng ở Đông Ngạc, tính từ cụ tổ Hoàng Nguyễn Thự.
Dạy chữ quốc ngữ và mở Công ty Đông Thành Xương
Sinh trưởng trong gia tộc họ Hoàng có truyền thống hiếu học và yêu nước, Cụ Hoàng Tăng Bí sớm đi theo tiếng gọi cứu dân cứu nước. Năm 1906, Cụ đỗ Cử nhân cũng là lúc ngọn gió canh tân từ Nhật Bản, Trung quốc thổi vào Hà Thành. Những tân văn, tân thư của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu - bạn “đồng văn đồng chủng” bay sang đất nước Việt đau thương sau bao cuộc khởi nghĩa thất bại đã cổ vũ, thúc giục các sĩ phu yêu nước tìm đến con đường duy tân để cứu nước. Đầu năm 1907, trường Đông kinh Nghĩa thục (ĐKNT) đã được thành lập ngay tại số 4 Hàng Đào - nhà của cụ Cử Lương Văn Can để khai trí cho dân, mở lớp dạy học không lấy tiền, tổ chức diễn thuyết, cổ động trong nhân dân. Trường do cụ Lương Văn Can làm Thục trưởng, cụ Nguyễn Quyền làm Giám học. Cụ Hoàng Tăng Bí tham gia cả Ban giáo dục, dạy Hán văn và Ban cổ động của ĐKNT.
Nhiệt tâm dạy chữ quốc ngữ, xoá nạn mù chữ cho người dân từ ngõ phố đến thôn quê, chỉ trong một thời gian ngắn, ĐKNT đã mở được bốn phân hiệu ở cả Hà Đông và Sơn Tây.
Không chỉ giảng dạy khắp các vùng Chèm Vẽ, Hà Đông, Hoàng Tăng Bí còn đi diễn thuyết, cổ động cho tư tưởng duy tân, học vấn đi đôi thực nghiệp, kinh doanh, mở mang công thương, nhưng phải lấy chữ Tín làm đầu, làm cho dân giàu nước mạnh. Những diễn giả Phan Chu Trinh, Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc, được công chúng hâm mộ và nổi tiếng về tài diễn thuyết đi vào lòng người. Vì vậy thơ khuyết danh mới có câu: “Buổi diễn thuyết người đông như hội/ Kỳ bình văn khách đến như mưa”.
Làm gương cho dân chúng và cũng là gây quỹ hoạt động cho nhà trường, các sĩ phu đã hùn vốn mở công ty. Hoàng Tăng Bí mở Công ty Đông Thành Xương ở phố Hàng Gai. Đó cũng chính là tư gia của ông ngoại - cụ Nguyễn Trọng Hiệp, Kinh lược xứ triều Nguyễn và là thầy dạy vua Thành Thái. Công ty chuyên buôn bán hàng nội và mở xưởng dệt xuyến hoa, làm trà ướp… Kính phục Hoàng Tăng Bí và các sĩ phu, trong diễn ca “Nam Thiên phong vận”, nhân dân ca ngợi các cụ: “Xã Đông Ngạc Hoàng quân Tăng Bí/Tánh thông minh tuổi trẻ khác thường/Tướng môn dòng dõi họ Hoàng/Á môn giá cũng xem thường nhẹ không/ Đêm ngày dốc một lòng vì nước/Đông Thành Xương đứng trước ra buôn… Cho hay những bậc tài danh/ Vì giang sơn phải dấn mình bước ra”. Những hoạt động yêu nước của ĐKNT và vụ đầu độc để giết lính Pháp trong Thành Hà Nội (1908) làm cho thực dân Pháp kinh hoàng. Chúng dẹp ĐKNT mà chúng gọi là “cái lò phiến loạn ở Bắc Kỳ”, bắt đóng cửa trường và công ty của các sĩ phu hoạt động cho ĐKNT. Tháng 10/1908, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Vũ Hoành bị kết án khổ sai chung thân, Dương Bá Trạc 15 năm tù; Hoàng Tăng Bí bị kết án 5 năm khổ sai đưa đi Côn Đảo. Nhờ có nhạc phụ là Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục can thiệp và bảo lãnh, sau một năm ở Hỏa Lò, cụ bị đưa đi quản thúc tại Huế 15 năm. Người vợ hiền là Cao Thị Thuyên thay ông nuôi dạy các con là Hoàng Minh Bàn, Hoàng Minh Giám, Hoàng Luyện Thiết, Hoàng Dụng Huyên thành tài.



