Hoàng Thành Thăng Long nơi hội tụ các giá trị lịch sử văn hóa
Nhưng khi lên ngôi báu, Vua Lý Thái Tổ nhận thấy thế đất hiểm trở, chật hẹp của Hoa Lư không còn phù hợp để cáng đáng vai trò là kinh đô của một đất nước thái bình. Chỉ một năm sau khi lên ngôi, Vua Lý Thái Tổ ban Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô). Trong văn bản lịch sử này, Vua Lý Thái Tổ nói rõ mong muốn “đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu” để “vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh”.
Chiếu dời đô được ban ra, vua tôi trên dưới một lòng đồng thuận di chuyển kinh đô ra thành Đại La.
Mùa thu năm Canh Tuất (1010), Lý Thái Tổ cùng quần thần khởi sự dời đô ra thành Đại La.
Sử cũ ghi lại, đoàn dời đô của nhà vua vừa đến đất Đại La, vua trông thấy có hình ảnh rồng vàng bay lên trời, bèn quyết định đặt tên cho vùng đất này là Thăng Long (rồng bay lên). Bắt đầu từ đây, Thăng Long chính thức trở thành kinh đô của một nhà nước độc lập, thống nhất; dù trải qua thăng trầm của các triều đại, Thăng Long tiếp tục đóng vai trò kinh đô qua các triều đại: Trần, Lê, Mạc, Lê Trung hưng.
Dời đô ra Thăng Long, nhà Lý bắt đầu cho xây dựng các công trình kiến thiết kinh đô. Thăng Long gồm hai phần: Hoàng thành là nơi ở của nhà vua và Hoàng gia, cũng là nơi nhà vua thiết triều; toàn bộ triều đình - cơ quan đầu não của nhà nước phong kiến - đều tập trung làm việc ở nơi này, khu vực thuộc quận Ba Đình ngày nay. Trong đó, nơi thiết triều được đặt tên là Điện Càn Nguyên (rồi đổi thành Điện Thiên An, Điện Kính Thiên qua các thời kỳ lịch sử). Bên ngoài Hoàng thành là khu vực cư dân sinh sống. Toàn bộ khu vực này được bao bọc bởi một vòng thành lớn, gọi là thành Đại La, hay La Thành.


