Hoàng Thị Khánh – Người nữ cựu tù nặng lòng với đồng đội
Trong những câu chuyện về những người bước ra từ “địa ngục trần gian” Côn Đảo, bà Hoàng Thị Khánh là một người đặc biệt. Chiến tranh đã đi qua nửa thế kỷ, những vết thương trên cơ thể có thể đã phai theo năm tháng, nhưng trong bà vẫn nguyên vẹn ký ức về những người đồng đội đã cùng mình đi qua tù ngục. Ở tuổi gần 80, bà vẫn miệt mài với công việc của Ban Liên lạc cựu tù chính trị và tù binh TP Hồ Chí Minh, vẫn đau đáu một điều giản dị: còn sức thì còn làm việc, còn nhớ đồng đội, còn phải sống sao cho xứng đáng với những người đã không thể trở về.
Trong những câu chuyện về những người bước ra từ “địa ngục trần gian” Côn Đảo, bà Hoàng Thị Khánh là một người đặc biệt. Chiến tranh đã đi qua nửa thế kỷ, những vết thương trên cơ thể có thể đã phai theo năm tháng, nhưng trong bà vẫn nguyên vẹn ký ức về những người đồng đội đã cùng mình đi qua tù ngục. Ở tuổi gần 80, bà vẫn miệt mài với công việc của Ban Liên lạc cựu tù chính trị và tù binh TP Hồ Chí Minh, vẫn đau đáu một điều giản dị: còn sức thì còn làm việc, còn nhớ đồng đội, còn phải sống sao cho xứng đáng với những người đã không thể trở về.
Sau Tết Mậu Thân năm 1968, khi lực lượng cách mạng trong nội thành Sài Gòn bị địch truy quét gắt gao, bà Hoàng Thị Khánh khi ấy là cán bộ tuyên huấn Khu Sài Gòn – Gia Định được điều sang làm Đội trưởng Đội Võ trang tuyên truyền thuộc Ban Tuyên huấn Khu ủy. Đội của bà gồm bảy thành viên, đều là phụ nữ, thực hiện hai nhiệm vụ: vừa võ trang, vừa tuyên truyền. Họ len lỏi giữa lòng thành phố, tuyên truyền cho người dân về phong trào cách mạng, về những chiến thắng của quân giải phóng, đồng thời thực hiện nhiệm vụ “diệt ác, phá kìm”.
Công việc ấy nguy hiểm đến mức mỗi lần xuất hiện, các nữ chiến sĩ phải hóa trang với “ba lớp áo”. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, họ có thể lần lượt cởi bỏ từng lớp áo để thay đổi diện mạo, hòa vào dòng người và rút lui trước khi địch kịp phát hiện. Nhưng trong một lần tuyên truyền tại khu vực chợ Bến Thành, bà Khánh cùng đồng đội bị lộ. Ngày 15 tháng 11 năm 1969 trở thành dấu mốc không thể quên trong cuộc đời bà. Ba người trong đội bị bắt tại chỗ.
Tại Nha Cảnh sát Đô thành, những trận tra tấn bắt đầu. Địch muốn biết tổ chức, đồng đội và nhiệm vụ của bà. Nhưng trước những câu hỏi dồn dập, bà cùng các chị em vẫn kiên quyết không khai. Chúng còn ép các bà phải nói “đả đảo Hồ Chí Minh” để được thả. Bà Khánh đại diện chị em phản đối. Bà nói rằng cha mẹ đã dạy phải nói thật, không được vu oan cho người khác, còn bà thì “biết ông Hồ Chí Minh là ai mà nói đả đảo”. Một câu trả lời tưởng như bình thản nhưng thể hiện sự cứng cỏi của người phụ nữ đã xác định rõ mình sẽ không khuất phục.
Không khai thác được gì, địch lần lượt đày bà qua Nhà giam Thủ Đức, Chí Hòa, Tân Hiệp rồi đưa ra Côn Đảo. Tại nơi được mệnh danh là “địa ngục trần gian”, bà cùng các nữ tù chính trị phải chịu những hình thức tra tấn vô cùng tàn khốc. Vừa đặt chân lên đảo, bà bị tống xuống chuồng cọp nằm sâu trong lòng đất. Những trận đòn bằng dùi cui, những ngón tay, ngón chân bị hành hạ, những hình thức tra tấn nhắm vào thân thể khiến nhiều người khiếp sợ. Có lúc địch rải vôi bột lên người tù rồi hắt nước, khiến da bị bỏng và nhiễm trùng.
Nhưng điều đáng sợ nhất đối với kẻ thù lại là việc những người tù không chịu khuất phục. Trong suốt khoảng năm năm ở Côn Đảo, bà Khánh cùng các nữ tù chính trị tổ chức nhiều cuộc đấu tranh, chống lăn tay, chống chụp hình, đòi quyền lợi và điều kiện sinh hoạt cho tù nhân. Nhà tù vốn được dựng lên để bẻ gãy ý chí, nhưng những người phụ nữ nơi đây lại biến chính nhà tù thành nơi tiếp tục truyền lửa cách mạng.
Đầu tháng 4 năm 1975, khi tình hình chiến trường thay đổi từng ngày, các nữ tù nhận thấy kẻ địch có dấu hiệu muốn tiêu diệt toàn bộ tù nhân nếu tình thế không thể cứu vãn. Mìn được gài, không khí căng thẳng bao trùm. Bà Khánh và đồng đội hiểu rằng mình có thể phải đối diện với cái chết bất cứ lúc nào. Nhưng họ tự nhủ: “Nếu chết thì chết cho đàng hoàng, trong tư thế ngẩng cao đầu của người cộng sản.”
Rạng sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, cánh cửa nhà giam mở ra. Trại trưởng thông báo: “Bên các bà thắng rồi, ra đi”. Ban đầu, những người tù vẫn nghi ngờ, sợ đây là một âm mưu khác. Cho đến khi nghe tin chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ, họ mới thực sự tin rằng mình đã sống sót. Những người từng tưởng rằng sẽ chết trong nhà tù Côn Đảo đã ôm lấy nhau, khóc và reo lên trong niềm hạnh phúc không thể diễn tả.
Nhưng trở về sau chiến tranh không có nghĩa là mọi đau khổ đã kết thúc. Trên cơ thể những nữ cựu tù vẫn còn đầy thương tích. Có người mang những di chứng nặng nề về tinh thần, có người thường xuyên lên cơn đau, co giật. Thế nhưng bà Khánh và đồng đội lại nhanh chóng lao vào công việc tái thiết thành phố. Bà làm Bí thư Đoàn quận 11, tham gia cứu đói, đưa dân trở về quê, vận động người dân đi khai hoang, xây dựng kinh tế mới và vận động những người từng ở phía bên kia tham gia lao động, ổn định cuộc sống.
Có một câu chuyện khiến bà nhớ mãi. Khoảng năm 1980-1981, một người phụ nữ tìm đến gặp bà. Đó là con gái của một vị trung tướng trong chính quyền Sài Gòn trước đây. Nhiều năm trước, chính bà Khánh là người vận động cô đi thanh niên xung phong. Người phụ nữ ấy từng rất hận bà, nhưng sau thời gian lao động, trưởng thành hơn, khi sang Mỹ vẫn nhớ tới người từng khiến mình “hận” năm xưa. Ngày trở về Việt Nam, cô nhất định tìm đến thăm bà. Hai người gặp nhau, không còn ranh giới của một thời đối đầu, chỉ còn lại sự mừng tủi và niềm vui khi thấy đất nước đã bước sang một thời kỳ mới.
Có lẽ chính những trải nghiệm ấy khiến bà Khánh càng nặng lòng với đồng đội. Những năm 1990, khi nhiều cựu tù chính trị, tù binh vẫn gặp khó khăn trong việc giải quyết chế độ, chính sách, bà cùng các đồng chí thành lập Ban Liên lạc cựu tù chính trị và tù binh TP Hồ Chí Minh. Từ một tổ chức ban đầu chỉ có 15 thành viên, mạng lưới dần phát triển rộng khắp, tập hợp đông đảo cựu tù chính trị, tù binh và xây dựng các tổ chức ở cơ sở.
Hàng chục năm qua, bà cùng đồng đội tổ chức những chuyến “Về nguồn”, đưa cựu tù trở lại chiến trường xưa, thăm những nơi từng giam giữ mình và tưởng nhớ những người đã nằm lại. Quỹ Nghĩa tình đồng đội được vận động để giúp những hội viên bệnh nặng, xây nhà, trao học bổng cho con em gia đình khó khăn. Những hồ sơ tồn đọng của cựu tù được tiếp tục tìm kiếm, giải quyết. Những câu chuyện của nhà tù, của một thế hệ chiến đấu và hy sinh cũng được ghi lại trong sách, kỷ yếu để thế hệ sau không quên.
Với bà Hoàng Thị Khánh, có lẽ phần thưởng lớn nhất của những năm tháng còn lại không phải là danh hiệu hay sự ghi nhận, mà là được nhìn thấy đồng đội sống khỏe mạnh, được thấy những gia đình từng chịu mất mát có cuộc sống tốt hơn và được kể lại câu chuyện của một thế hệ cho những người trẻ hôm nay.
Chiến tranh đã lùi xa. Côn Đảo không còn là nơi giam cầm những người yêu nước mà trở thành một địa chỉ đỏ nhắc nhớ về lịch sử. Nhưng trong ký ức của những người từng sống qua nơi ấy, tiếng cửa sắt, những trận đòn và những người đồng đội đã mãi nằm lại vẫn chưa bao giờ biến mất. Bà Hoàng Thị Khánh chọn cách sống tiếp bằng việc chăm lo cho đồng đội, bởi bà hiểu rằng mỗi ngày mình còn được sống bình yên cũng là một phần món nợ với những người đã hy sinh.
Và vì thế, ở tuổi gần 80, người nữ cựu tù năm nào vẫn chưa cho phép mình nghỉ ngơi. Bà vẫn đi, vẫn gặp, vẫn kể và vẫn làm những việc nghĩa tình. Bởi với bà, sống đến hôm nay không chỉ là may mắn, mà còn là trách nhiệm – trách nhiệm sống sao cho xứng đáng với những người đã mãi mãi nằm lại giữa thời hoa lửa.



