Hoàng Thủy Nguyên – Người uống chính vaccine mình sản xuất để bảo vệ trẻ em Việt Nam
Khi vaccine bại liệt do Việt Nam sản xuất còn bị hoài nghi, Giáo sư Hoàng Thủy Nguyên và Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đã trực tiếp uống vaccine ngay trước hội đồng khoa học. Từ phòng nghiên cứu thiếu điện nước ấy, Việt Nam tiến tới thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000.
Năm 1962, trong một hội trường của ngành y tế, Giáo sư Hoàng Thủy Nguyên đặt trước mặt mình một lọ vaccine bại liệt vừa được các nhà khoa học Việt Nam sản xuất.
Công trình đã hoàn thành, nhưng nhiều người vẫn lo ngại. Vaccine chứa virus sống đã được làm giảm độc lực; nếu quy trình không bảo đảm, người uống có thể gặp nguy hiểm. Trong khi Việt Nam chưa có đầy đủ phương tiện kiểm định hiện đại như các nước phát triển, ai sẽ dám khẳng định những giọt vaccine ấy an toàn?
Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch yêu cầu Hoàng Thủy Nguyên mở lọ vaccine.
Người đứng đầu nhóm nghiên cứu uống trước.
Sau đó, Bộ trưởng cầm một lọ khác và cũng trực tiếp uống vaccine. Theo lời kể của một cộng sự, hai người đã dùng lượng tương đương nhiều liều thông thường để chứng minh niềm tin vào kết quả nghiên cứu.
Buổi nghiệm thu gần như kết thúc bằng hành động ấy.
Không có một bài diễn văn dài. Hai nhà khoa học đã đặt chính sức khỏe của mình vào sản phẩm họ chuẩn bị đưa tới hàng triệu trẻ em.
Phía sau lọ vaccine nhỏ bé là cuộc chiến với một căn bệnh từng gieo nỗi kinh hoàng cho nhiều gia đình Việt Nam.
Trong hai năm 1959–1960, bệnh bại liệt bùng phát thành dịch lớn tại các tỉnh miền Bắc. Khoảng 17.000 trẻ mắc bệnh, hơn 500 em tử vong. Tỷ lệ mắc có thời điểm lên tới 126,44 trường hợp trên 100.000 dân.
Những em sống sót có thể phải mang di chứng suốt đời. Virus tấn công hệ thần kinh, làm các cơ yếu đi hoặc mất khả năng vận động. Có đứa trẻ đang chạy nhảy bình thường, chỉ sau một trận sốt đã không thể tự đứng lên được nữa.
Khi ấy, Việt Nam còn nghèo và phải phụ thuộc vào vaccine viện trợ. Trong hai năm 1960–1961, Liên Xô hỗ trợ khoảng bốn triệu liều vaccine bại liệt đường uống, đủ để bảo vệ khoảng hai triệu trẻ dưới ba tuổi. Nhưng muốn chống dịch lâu dài, Việt Nam không thể chỉ chờ vaccine từ nước ngoài.
Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch giao cho các nhà khoa học trong nước nhiệm vụ phải tự sản xuất được vaccine.
Người nhận trọng trách ấy là Hoàng Thủy Nguyên.
Ông sinh ngày 18 tháng 3 năm 1929 tại làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Sau khi được đào tạo về y học, virus học và vaccine ở nước ngoài, ông trở về nước cuối năm 1958. Kiến thức học được cần phải biến thành một quy trình phù hợp với điều kiện Việt Nam – nơi phòng nghiên cứu thiếu từ máy móc, hóa chất đến điện và nước sạch.
Sau một thời gian tìm hiểu công nghệ sản xuất vaccine Sabin tại Liên Xô, Hoàng Thủy Nguyên khẩn trương thành lập nhóm nghiên cứu trong nước. Các cộng sự của ông vừa làm thí nghiệm, vừa tự hướng dẫn và đào tạo lẫn nhau.
Cơ sở ban đầu được bố trí trên tầng hai của một khu nhà cũ tại số 5 phố Quang Trung, Hà Nội. Điện thường xuyên chập chờn nên nhóm phải dùng thiết bị ổn áp. Nước cũng không phải lúc nào cũng có. Phòng thí nghiệm không có điều hòa; vào những ngày nóng, các cán bộ mặc quần áo vô trùng làm việc trong căn phòng kín, mồ hôi ướt đẫm đến mức có thể vắt ra nước.
Phần bồi dưỡng cho một đêm làm việc, nếu có, đôi khi chỉ là một bát cháo gà.
Vaccine bại liệt được sản xuất bằng cách nuôi cấy virus trên tế bào thận khỉ. Các nước có điều kiện thường sử dụng khỉ xanh châu Phi vì tế bào phù hợp và ổn định. Việt Nam không đủ kinh phí nhập loại khỉ này, nên Hoàng Thủy Nguyên nghiên cứu sử dụng khỉ vàng có sẵn trong nước.
Ông cho xây dựng cơ sở nuôi khỉ trên đảo Rều thuộc tỉnh Quảng Ninh. Đàn khỉ được kiểm soát sức khỏe để cung cấp nguồn tế bào sạch cho việc nghiên cứu và sản xuất vaccine. “Đảo khỉ” về sau còn tiếp tục phục vụ công tác kiểm định nhiều loại vaccine, sinh phẩm y tế khác.
Một khó khăn nữa là môi trường nuôi cấy tế bào. Ở các nước phát triển, người ta sử dụng huyết thanh lấy từ bê trong giai đoạn bào thai. Loại nguyên liệu này đắt tiền và phải luôn được bảo quản ở nhiệt độ rất thấp. Trong điều kiện chiến tranh, mất điện và vận chuyển khó khăn, Việt Nam không thể phụ thuộc vào nó.
Nhóm của Hoàng Thủy Nguyên tìm cách sử dụng huyết thanh bò trưởng thành trong nước để thay thế. Nhờ vậy, nguồn nguyên liệu dễ tìm hơn, chi phí thấp hơn và phù hợp với điều kiện thực tế.
Kinh phí cũng được sử dụng hết sức chặt chẽ. Mỗi năm, nhóm nghiên cứu được cấp số ngoại tệ tương đương 2.000 bảng Anh để mua hóa chất và dụng cụ. Hoàng Thủy Nguyên tiết kiệm qua nhiều năm mới đủ tiền mua thêm một máy đông khô của Tây Đức, cũng có giá khoảng 2.000 bảng.
Cuối năm 1960, những mẻ vaccine bại liệt thực nghiệm đầu tiên được tạo ra. Ngày 8 tháng 3 năm 1961, Bộ Y tế thành lập bộ phận kiểm định độc lập để đánh giá chất lượng vaccine và sinh phẩm trước khi sử dụng trên người.
Đến năm 1962, nhóm nghiên cứu sản xuất được hai triệu liều vaccine bại liệt. Năm sau, sản lượng tăng lên hơn 7,4 triệu liều.
Tuy nhiên, những con số và báo cáo kỹ thuật vẫn chưa đủ xóa bỏ lo lắng. Bởi vậy, Hoàng Thủy Nguyên và Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch trực tiếp uống vaccine trước khi quyết định sử dụng rộng rãi.
Kết quả nhanh chóng được chứng minh trong thực tế. Việt Nam trở thành một trong những nước đầu tiên tự chủ được vaccine bại liệt. Năm 1965, tỷ lệ mắc bệnh giảm còn 0,66 trên 100.000 dân, chỉ bằng khoảng một phần năm mức ghi nhận năm 1961. Việt Nam còn có điều kiện hỗ trợ vaccine cho Lào.
Nhưng sản xuất được vaccine mới chỉ là một nửa chặng đường.
Muốn thanh toán bệnh bại liệt, vaccine phải đến được với mọi trẻ em, kể cả những em sống ở miền núi, hải đảo và các bản làng xa xôi. Vaccine lại phải được giữ lạnh liên tục trên đường vận chuyển.
Từ năm 1985, vaccine bại liệt uống do Việt Nam sản xuất được đưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới một tuổi. Trong thập niên 1990, công cuộc thanh toán bại liệt bước vào giai đoạn quyết định.
Các cán bộ y tế và chiến sĩ quân đội mang những thùng lạnh đựng vaccine đi bộ hai, ba ngày để tới các bản làng. Nhiều đợt uống vaccine được tổ chức đồng loạt trên phạm vi toàn quốc. Từ năm 1990 đến năm 2000, tỷ lệ trẻ dưới một tuổi được uống đủ ba liều vaccine liên tục đạt hơn 90%.
Song song với tiêm chủng, thế hệ học trò của Hoàng Thủy Nguyên tiếp tục cải tiến quy trình sản xuất. Trước đây, một cặp thận khỉ chỉ tạo được khoảng 15 chai tế bào nuôi cấy. Với phương pháp mới, con số có thể tăng lên tới 200 chai. Công suất sản xuất vaccine bại liệt của Việt Nam đạt mức cao nhất khoảng 40 triệu liều mỗi năm.
Ca bại liệt do virus hoang dại cuối cùng tại Việt Nam được phát hiện năm 1997.
Ngày 15 tháng 12 năm 2000, Việt Nam tổ chức lễ công bố thanh toán bệnh bại liệt. Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trao chứng nhận cho Giáo sư Hoàng Thủy Nguyên – người đã theo đuổi hành trình ấy từ một phòng thí nghiệm thiếu điện nước gần bốn thập niên trước.
Thành công của vaccine Sabin còn mở đường cho Việt Nam nghiên cứu và sản xuất các vaccine phòng viêm não Nhật Bản, viêm gan B cùng nhiều bệnh truyền nhiễm khác. Hoàng Thủy Nguyên trở thành một trong những người đặt nền móng cho ngành công nghiệp vaccine Việt Nam.
Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Thầy thuốc Nhân dân và nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học y – dược. Ông qua đời ngày 20 tháng 7 năm 2018, hưởng thọ 89 tuổi.
Những giọt vaccine bại liệt thường được nhỏ vào miệng một đứa trẻ rất nhanh. Đứa trẻ có thể khóc rồi lập tức quên đi. Nhưng để có được những giọt thuốc nhỏ bé ấy là nhiều năm nghiên cứu, những đêm làm việc đẫm mồ hôi và một quyết định đầy trách nhiệm của người thầy thuốc.
Năm 1962, Hoàng Thủy Nguyên uống chính vaccine do mình sản xuất vì ông hiểu một nguyên tắc giản dị: trước khi yêu cầu các gia đình trao niềm tin và sức khỏe của con mình cho khoa học, nhà khoa học phải sẵn sàng chịu trách nhiệm về điều mình tạo ra.



