HOÀNG VĂN NGHIÊN — MỞ LUỒNG QUA THÁC DỮ, ĐƯA HÀNG TỚI TIỀN PHƯƠNG
Trên tuyến vận tải Trường Sơn, có những đoạn đường được mở bằng cuốc, xẻng; có những luồng sông phải khai thông giữa ghềnh thác hiểm trở. Hoàng Văn Nghiên là người lính công binh đã nhiều lần đối diện dòng nước xiết, cùng đồng đội tìm cách mở đường thủy để những chuyến hàng tiếp tục đến chiến trường. Chiến công của ông gắn với một nhiệm vụ thầm lặng mà cấp thiết: giữ cho sự chi viện không bị ngừng lại.
Hoàng Văn Nghiên sinh năm 1939, là người dân tộc Nùng, quê ở xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Xuất thân trong một gia đình nông dân, ông lớn lên trong những năm nhân dân cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp. Tháng 4 năm 1962, ông tình nguyện nhập ngũ, trở thành chiến sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 98 Công binh, Đoàn 559.
Sau thời gian huấn luyện, Hoàng Văn Nghiên cùng đơn vị hành quân vào Trường Sơn, khẩn trương làm đường ngay trong mùa mưa. Công việc nặng nhọc, thời gian gấp, trong khi từng chuyến hàng phía sau đang chờ đường thông để tiếp tục tiến về phía trước.
Giữa điều kiện ấy, ông cùng anh em cải tiến công cụ lao động, làm đà trượt để vận chuyển đất đá, nâng năng suất san gạt. Sáng kiến xuất phát từ chính những khó khăn hằng ngày: làm thế nào giảm bớt công sức, đẩy nhanh tiến độ mà vẫn hoàn thành yêu cầu của đơn vị. Người lính công binh đã góp sức bằng đôi tay lao động và sự chủ động suy nghĩ trước nhiệm vụ.
Những năm 1964–1965, nhu cầu vận chuyển phục vụ chiến trường ngày càng lớn. Hoàng Văn Nghiên cùng đơn vị nhận nhiệm vụ mở tuyến đường thủy. Ghềnh thác trở thành những điểm nghẽn, khiến bè mảng không thể đi qua, hàng hóa phải bốc dỡ, khuân chuyển nhiều lần. Hai chướng ngại đặc biệt khó khăn được tư liệu nhắc đến là thác Chà Bạc và thác Hồ Giống.
Ở Chà Bạc, một tảng đá lớn chắn ngang dòng chảy. Muốn khai thông luồng vận chuyển, trước hết phải tiếp cận, khảo sát và xác định cách xử lý. Đây là nhiệm vụ nguy hiểm giữa dòng nước mùa mưa, khi sức người có thể bị cuốn đi bất cứ lúc nào.
Hoàng Văn Nghiên xung phong nhận phần việc ấy. Ông kiên trì tiếp cận chân thác, nhiều lần lặn xuống thăm dò trong sự hỗ trợ của đồng đội. Có lúc dòng xoáy buộc anh em phải kéo ông lên. Nghỉ lại sức, ông tiếp tục công việc. Để mở được luồng đi, lòng gan dạ phải đi cùng sự thận trọng, sự quan sát và phối hợp chặt chẽ của cả tập thể.
Thác Hồ Giống lại đặt ra thử thách khác: dòng hẹp, dốc lớn, nước xiết, nhiều đá sắc. Những chuyến bè thử vượt thác gặp nguy hiểm. Hoàng Văn Nghiên tiếp tục bơi, lặn khảo sát, chịu nhiều xây xát để cùng đơn vị hoàn thành việc phá chướng ngại, khai thông đường thủy.
Khi luồng vận chuyển được mở, thành quả của người lính công binh hiện lên qua những chuyến hàng có thể tiếp tục hành trình. Phía sau công việc khảo sát, phá đá, mở đường là lương thực, thuốc men, vũ khí mà đồng đội ngoài chiến trường đang cần. Ý nghĩa ấy giúp chúng ta hiểu vì sao những người lính Trường Sơn đã bền bỉ vượt qua bao hiểm nguy, gian khổ.
Ngày 1 tháng 11 năm 1967, Hoàng Văn Nghiên được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Khi ấy, ông là Trung đội trưởng Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 98 Công binh. Danh hiệu cao quý ghi nhận tinh thần dũng cảm, sáng tạo và trách nhiệm của người chiến sĩ trong nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải.
Cuộc đời công tác của ông tiếp tục gắn với lực lượng công binh. Qua nhiều cương vị chỉ huy, ông trưởng thành từ người chiến sĩ mở đường đến cán bộ mang quân hàm Thượng tá, từng giữ chức Lữ đoàn phó Lữ đoàn Công binh 575, Quân khu 1. Sau những năm phục vụ quân đội, ông nghỉ hưu tại Thái Nguyên.
Những gian khổ của Hoàng Văn Nghiên cùng đồng đội là một phần trong cái giá mà dân tộc Việt Nam phải trả để bảo vệ độc lập, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đã gây nên bao mất mát, buộc những người thanh niên phải đem tuổi trẻ và sức lực vượt qua bom đạn, núi cao, vực sâu để giữ sự chi viện cho tiền tuyến.
Nhớ về Hoàng Văn Nghiên, chúng ta tự hào về trí tuệ và ý chí của bộ đội Trường Sơn. Đó là người lính biết tìm cách giải quyết khó khăn, dám nhận nhiệm vụ nguy hiểm và bền bỉ cùng đồng đội làm đến cùng. Câu chuyện mở luồng qua thác dữ nhắc thế hệ hôm nay trân trọng hòa bình, làm việc có trách nhiệm và biết góp sức mình vào những công việc chung của đất nước.



