Anh hùng Lực lượng vũ trang

HOÀNG VĂN PHÁC – NGƯỜI CHIẾN SĨ LẤY VAI MÌNH GIỮ NHỊP CẦU

Hoàng Văn Phác quê Tân Thanh, Lạng Giang, Bắc Giang, nhập ngũ tháng 1-1950, chiến đấu trong Trung đoàn Công binh H39. Ông tham gia nhiều chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Pháp. Năm 1953, tại Sầm Nưa, khi một cây cầu tạm có nguy cơ không chịu nổi đoàn xe quân sự, ông dũng cảm xuống gầm cầu, dùng sức mình ghì giữ chân cột yếu, cùng đồng đội bảo đảm cho 36 xe chở gạo và vũ khí vượt qua, kịp thời phục vụ lực lượng truy kích. Ông còn tham gia xây dựng hầm chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Mường Phăng và phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau này, ông tiếp tục chiến đấu trong kháng chiến chống Mỹ, tham gia chiến trường Lào và mùa Xuân 1975. Năm 1983, ông nghỉ hưu với quân hàm Trung tá, khép lại 33 năm binh nghiệp.

Đồng Tháp22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, có những chiến công không bắt đầu bằng tiếng súng. Đó có thể là một con đường được mở giữa núi rừng, một cây cầu được giữ vững giữa lúc đoàn quân đang gấp rút tiến lên, hay một người lính sẵn sàng dùng chính sức mình để nhiệm vụ không bị gián đoạn.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hoàng Văn Phác, quê Tân Thanh, Lạng Giang, Bắc Giang, là một người lính như thế.

Từ người liên lạc đến chiến sĩ công binh

Trước khi nhập ngũ, Hoàng Văn Phác tham gia hoạt động thanh niên và làm nhiệm vụ liên lạc tại địa phương. Khi quân Pháp càn quét Tân Thanh và các vùng lân cận, ông tham gia chống càn tại Núi Kem.

Chứng kiến những tội ác của quân xâm lược, người thanh niên trẻ quyết tâm xin vào bộ đội. Nhưng có một trở ngại: ông không biết chữ, vì vậy nhiều lần xin tòng quân nhưng chưa được chấp nhận.

Mãi đến tháng 1-1950, nguyện vọng ấy mới trở thành hiện thực.

Hoàng Văn Phác được biên chế vào Đại đội 250, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Công binh H39, đơn vị công binh đầu tiên của Bộ Tư lệnh Công binh, sau này là Lữ đoàn Công binh vượt sông H39.

Thời điểm ấy, trang bị của bộ đội công binh còn rất thiếu thốn. Đơn vị chưa có những phương tiện hiện đại, chủ yếu dựa vào sức người cùng một số thuyền vận tải nhỏ.

Nhưng chính trong hoàn cảnh khó khăn ấy, những người lính công binh đã góp phần mở những con đường đưa bộ đội tiến ra chiến trường.

“Mở đường thắng lợi”

Sau thời gian huấn luyện, Hoàng Văn Phác cùng đơn vị liên tục tham gia các chiến dịch lớn:

Chiến dịch Hoàng Hoa Thám năm 1951 → Chiến dịch Quang Trung → Chiến dịch Hòa Bình → Chiến dịch Tây Bắc năm 1952.

Qua các chiến dịch, Trung đoàn Công binh H39 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ thêu bốn chữ:

“MỞ ĐƯỜNG THẮNG LỢI”

Hoàng Văn Phác cũng lập được nhiều thành tích và được bầu là Chiến sĩ thi đua cấp Trung đoàn và Bộ Tư lệnh.

Nhưng một trong những hành động đặc biệt nhất của ông diễn ra trên đất bạn Lào.

Lấy sức mình giữ chân cầu

Ngày 12-4-1953, khi lực lượng cách mạng Việt-Lào tiến lên, quân Pháp rút chạy khỏi Sầm Nưa.

Để các đơn vị chủ lực nhanh chóng truy kích, Đại đội 250 nhận nhiệm vụ khẩn trương sửa chữa và làm lại 5 cây cầu, bảo đảm đường vận chuyển quân, gạo và vũ khí.

Khi tiểu đội Hoàng Văn Phác đến một cây cầu tạm gần thị xã Sầm Nưa, họ phát hiện một trụ cầu đã chớm mục, không bảo đảm cho ô tô đi qua.

Có ý kiến đề nghị lấp đất để xe vượt qua.

Hoàng Văn Phác nhận thấy phương án này không khả thi. Khe suối sâu, lực lượng chỉ có một tiểu đội và tất cả đều phải làm thủ công. Nếu mất quá nhiều thời gian, các đoàn xe không thể kịp thời phục vụ lực lượng đang truy kích.

Ông xuống tận chân cầu kiểm tra rồi tìm vật liệu gia cố phần yếu nhất.

Chiếc ô tô đầu tiên bắt đầu tiến lên.

Nhưng khi xe vào cầu, mặt lát bị trượt.

Cây cầu rung lên dữ dội.

Mọi người đứng bên ngoài hồi hộp theo dõi. Nếu trụ cầu gãy, không chỉ chiếc xe gặp nguy hiểm mà cả tuyến vận chuyển có thể bị gián đoạn.

Đúng lúc ấy, Hoàng Văn Phác thực hiện một hành động táo bạo.

Ông lao xuống gầm cầu, dùng chính sức mình ghì chặt chân cột chống đang yếu nhất.

Chiếc xe từ từ nhích qua.

Cây cầu tiếp tục rung.

Người chiến sĩ công binh vẫn đứng dưới đó, giữ chặt chân cột.

Rồi chiếc xe vượt qua an toàn.

Tiếng reo của đồng đội vang lên.

Noi theo Hoàng Văn Phác, những người lính khác lập tức lấy thêm cây chống, cùng xuống gầm cầu gia cố và gánh đỡ các vị trí xung yếu.

Kết quả, 36 ô tô chở gạo và vũ khí đã vượt qua cây cầu, tiếp tục tiến lên phục vụ lực lượng truy kích đối phương.

Một người lính công binh đã biến chính đôi vai và sức lực của mình thành một phần của cây cầu chiến đấu.

Từ Sầm Nưa đến Điện Biên Phủ

Trước và trong quá trình chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, Hoàng Văn Phác cùng Đại đội 250 còn tham gia nhiều nhiệm vụ quan trọng.

Ông tham gia xây dựng hầm chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Mường Phăng, đồng thời cùng đơn vị thực hiện nhiệm vụ bảo đảm công binh, làm cầu, sửa đường phục vụ các lực lượng chiến đấu.

Đơn vị còn bắc cầu phao vượt sông Mã phục vụ lực lượng tiến về hướng Sầm Nưa.

Chính những người lính công binh âm thầm mở đường, dựng cầu, bảo đảm giao thông đã góp phần tạo nên khả năng cơ động của các đơn vị trên chiến trường.

Sau những thành tích trong kháng chiến chống Pháp, Hoàng Văn Phác được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Khi ấy, ông mới khoảng 27 tuổi.

Tiếp tục “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”

Kháng chiến chống Pháp kết thúc, nhưng cuộc đời quân ngũ của Hoàng Văn Phác chưa dừng lại.

Trong kháng chiến chống Mỹ, ông tiếp tục cùng đồng đội lên đường, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, phối hợp với các lực lượng tham gia chiến đấu trên chiến trường Lào, trong đó có Cánh đồng Chum.

Đến mùa Xuân năm 1975, ông tiếp tục có mặt trong đội hình chiến đấu, cùng đồng đội tiến vào giải phóng Nha Trang, Khánh Hòa.

Tháng 6-1975, đơn vị của ông trở ra miền Bắc và tham gia xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ mở đường, bắc cầu trong chiến tranh đến góp sức xây dựng công trình đặc biệt trong những ngày đất nước thống nhất, cuộc đời người lính công binh Hoàng Văn Phác gắn với nhiều dấu mốc của lịch sử dân tộc.

33 năm đời lính

Năm 1983, Hoàng Văn Phác nghỉ hưu với quân hàm Trung tá, kết thúc 33 năm quân ngũ.

Ông trở về quê hương với cuộc sống giản dị bên gia đình.

Người chiến sĩ năm nào từng lấy sức mình giữ chân cầu cho đoàn xe vượt qua giờ trở lại làm một người dân bình thường giữa làng quê. Nhưng câu chuyện của ông vẫn lưu giữ một phẩm chất rất đặc biệt của người lính công binh:

Đường phải thông. Cầu phải vững. Bộ đội phải tiến lên.

Và khi cây cầu có nguy cơ không chịu nổi sức nặng của đoàn xe, người lính ấy đã không đứng nhìn.

Ông bước xuống dưới cầu và dùng chính sức mình để giữ lấy nhịp đường ra trận.

Đó cũng là một hình ảnh đẹp về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” – bình dị trong cuộc sống nhưng sẵn sàng nhận phần gian khó, hiểm nguy về mình khi Tổ quốc cần.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn