Hoàng Văn Quản – hai khẩu súng giữ dốc Vàm Đông suốt tám giờ
Trước khi trực tiếp chiến đấu bảo vệ Cao Bằng tháng 2/1979, Thiếu tá Hoàng Văn Quản đã tổ chức sơ tán nhân dân, tài liệu và 20 tấn lương thực. Tại dốc Vàm Đông, ông cùng lực lượng mỏng giữ vững trận địa suốt hơn tám giờ.
Sáng 19 tháng 2 năm 1979, từ khu hậu cứ Lam Sơn nhìn về phía con dốc Vàm Đông, Hoàng Văn Quản thấy một lực lượng đối phương đang tiến đến. Trước mặt ông là ba tốp quân, mỗi tốp có khoảng 200 đến 300 người. Phía sau trận địa của ông, cách chừng một kilômét, là nơi tập trung nhân dân, cán bộ và tài sản vừa được sơ tán khỏi huyện lỵ Hòa An.
Lực lượng phòng thủ ít, phần lớn chiến sĩ còn trẻ và chưa trải qua chiến đấu. Những khẩu súng trong tay họ phải đối đầu với một đội hình đông hơn nhiều lần.
Hoàng Văn Quản hiểu rằng nếu để đối phương vượt qua dốc Vàm Đông, khu hậu cứ cùng hàng nghìn người dân phía sau sẽ bị đe dọa. Ông quyết định giữ trận địa.
Hoàng Văn Quản sinh năm 1928 trong một gia đình nông dân người Tày tại xã Nam Tuấn, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Năm 1942, khi mới 14 tuổi, ông đã tham gia hoạt động Việt Minh tại địa phương.
Năm 1953, ông gia nhập lực lượng Công an Cao Bằng. Từ một chiến sĩ bảo vệ và trinh sát, Hoàng Văn Quản lần lượt đảm nhiệm nhiều công việc, sau đó được đề bạt làm Trưởng phòng Tổ chức cán bộ.
Năm 1977, ông được điều về quê giữ chức Trưởng Công an huyện Hòa An. Đây là một địa bàn miền núi rộng, nằm gần khu vực biên giới và có nhiều tuyến đường quan trọng dẫn về trung tâm tỉnh Cao Bằng.
Những ngày đầu tháng 2/1979, tình hình biên giới trở nên đặc biệt căng thẳng. Hoàng Văn Quản chỉ huy lực lượng công an bám địa bàn, thu thập thông tin và báo cáo lãnh đạo huyện. Từ những dấu hiệu đã nắm được, ông chủ động đề nghị khẩn trương đưa nhân dân, tài liệu và tài sản của các cơ quan vào khu hậu cứ Lam Sơn.
Việc sơ tán được tiến hành trước khi chiến sự lan tới huyện lỵ. Đây là quyết định quan trọng bởi rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc bắt đầu, trong đó Cao Bằng là một hướng trọng điểm.
Sáng 18 tháng 2, xe tăng đối phương xuất hiện tại huyện lỵ Hòa An. Hoàng Văn Quản lúc này đồng thời là Phó trưởng Ban Chỉ huy Quân sự thống nhất của huyện. Ông bố trí lực lượng bảo vệ lãnh đạo, tiếp tục hướng dẫn nhân dân rời vùng nguy hiểm và tổ chức vận chuyển 20 tấn lương thực, thực phẩm vào hậu cứ.
Giữa chiến sự, 20 tấn lương thực không chỉ là tài sản. Đó là nguồn sống của người dân sơ tán, thương binh và các lực lượng đang chiến đấu. Nếu số lương thực bị mất, toàn bộ khu hậu cứ có thể rơi vào tình trạng thiếu ăn.
Sáng hôm sau, ngày 19 tháng 2, trinh sát phát hiện đối phương đang tiến về Lam Sơn. Hoàng Văn Quản lập tức thông báo cho nhân dân tìm nơi phòng tránh, đồng thời đưa lực lượng ra bố trí trận địa tại dốc Vàm Đông.
Khi đội hình đối phương xuất hiện, một số chiến sĩ trẻ không giấu được lo lắng. Hoàng Văn Quản bình tĩnh động viên mọi người giữ vững vị trí, tận dụng địa hình và chỉ nổ súng khi mục tiêu vào đúng tầm bắn.
Ba tốp quân lần lượt tiến đến, vừa đi vừa bắn sang hai bên đường. Ông để hai tốp đầu vượt qua khu vực phục kích. Tốp thứ ba dừng lại nghỉ gần đầu cầu, đội hình không còn giữ được sự đề phòng ban đầu.
Hoàng Văn Quản nhận thấy thời cơ đã tới. Ông nổ phát súng đầu tiên, bắn trúng người chỉ huy của đối phương.
Đội hình phía trước lập tức rối loạn. Nhưng khi nhận ra lúc đầu chỉ có hai khẩu súng từ phía trận địa Việt Nam lên tiếng, đối phương tổ chức lực lượng tiến công trở lại.
Hoàng Văn Quản chờ họ vào gần hơn. Khi khoảng cách đã phù hợp, những loại súng tầm ngắn của lực lượng phòng thủ đồng loạt khai hỏa. Đối phương bị bất ngờ, phải dừng đội hình và sử dụng hỏa lực tầm xa bắn vào trận địa.
Trận đánh kéo dài hơn tám giờ.
Trong thời gian ấy, Hoàng Văn Quản một mình sử dụng hai khẩu súng. Khi khẩu trung liên gần hết đạn, ông liên tục thay đổi vị trí, dựa vào cây rừng, mô đất và các vật che chắn để bắn tỉa, khiến đối phương khó xác định chính xác nơi đặt hỏa lực.
Nhiều đợt tiến công bị đẩy lùi. Đến cuối trận, lực lượng đối phương phải rút khỏi khu vực. Trận địa Vàm Đông vẫn được giữ vững; riêng Hoàng Văn Quản được ghi nhận đã tiêu diệt 15 quân đối phương.
Ông không có nhiều thời gian nghỉ ngơi. Sau một đêm hành quân, sáng 20 tháng 2, Hoàng Văn Quản cùng một phân đội tới Lũng Vài, xã Hồng Việt. Khi phát hiện một toán trinh sát, lực lượng của ông phối hợp với đơn vị bạn chặn đánh, bắt sống một người.
Tối cùng ngày, đối phương tiếp tục tiến công khu vực hang Ngườm Bốc, nơi có nhiều cán bộ, người dân sơ tán và thương binh. Đạn pháo bắn dữ dội vào cửa hang. Hoàng Văn Quản phối hợp với lực lượng quân sự huyện tổ chức đánh trả rồi nhanh chóng đưa mọi người sang một vị trí khác.
Quyết định di chuyển được đưa ra đúng lúc. Sau khi người dân và thương binh vừa rời đi, hỏa lực H12 dội xuống khu vực hang, san phẳng một vùng. Nếu việc sơ tán chậm trễ, hậu quả sẽ đặc biệt nghiêm trọng.
Khi một khu sơ tán khác tại Đại Tiến bị mất liên lạc, Hoàng Văn Quản xung phong dẫn một tiểu đội vượt qua vùng đối phương kiểm soát để nắm tình hình và truyền đạt mệnh lệnh. Trên đường, đơn vị phát hiện một kho thóc đang cháy. Ông huy động chiến sĩ và nhân dân dập lửa, cứu số lương thực còn lại rồi phân phát hàng chục tấn thóc cho đồng bào.
Sau khi đối phương rút quân, Hoàng Văn Quản chỉ huy lực lượng trở về tiếp quản huyện lỵ. Công việc lúc này không còn là chiến đấu tại một trận địa cụ thể mà là truy tìm tàn binh, ngăn chặn hoạt động phá hoại, vệ sinh phòng dịch, giúp dân dựng lại nhà và khôi phục hoạt động của chính quyền.
Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Thiếu tá Hoàng Văn Quản được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất và phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Sau khi nghỉ hưu, ông tiếp tục tham gia công tác tại địa phương, giữ chức Phó bí thư Thường trực Đảng ủy thị trấn Nước Hai. Ông qua đời năm 1994.
Câu chuyện về Hoàng Văn Quản không bắt đầu bằng tiếng súng. Nó bắt đầu bằng việc đưa người dân rời khỏi nơi nguy hiểm, chuyển tài liệu và 20 tấn lương thực vào hậu cứ. Chỉ khi con đường dẫn tới nơi sơ tán bị đe dọa, ông mới cùng đồng đội đứng lại tại dốc Vàm Đông.
Hơn tám giờ chiến đấu ở con dốc ấy cho thấy bảo vệ Tổ quốc không chỉ là giữ một vị trí trên bản đồ. Đó còn là giữ lấy những người dân phía sau, những bao gạo dành cho người sơ tán và quyền được trở về dựng lại mái nhà sau khi tiếng súng chấm dứt.



