Hoàng Văn Thạch – người lính công binh Sư đoàn 345
Hoàng Văn Thạch, cựu chiến binh tham gia chiến tranh biên giới 1979
Hoàng Văn Thạch – người lính công binh Sư đoàn 345
Tôi là Hoàng Văn Thạch, sinh năm 1956, người con của vùng quê nghèo thôn Loạc xã Võ Lao, Quê hương tôi ngày ấy nghèo lắm, quanh năm ăn cơm độn sắn, nhưng được cái tình làng nghĩa xóm thì sâu nặng. Sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất. Nhưng chưa kịp yên, cả nước lại nhận tin vùng biên giới phía Bắc liên tục bị quân Trung Quốc tấn công lấn chiếm. Lúc ấy tôi mới vừa tròn tuổi mười tám, trong lòng lúc nào cũng nghĩ về việc xin đi lính. Tôi nghĩ đơn giản rằng: “Đất nước còn cần mình thì mình phải đi.” dáng vóc tôi khi ấy gầy nhom, tôi viết lá đơn tự nguyện nhập ngũ.
Cuối năm 1975, tôi chính thức trở thành lính của Sư đoàn 345 – Quân khu 2. Ngày đầu bước chân vào đơn vị, tôi mới thấy mình nhỏ bé, nhưng không nhụt trí, tôi tập thể dục rèn luyện sức khỏe sau 3 tháng huấn luyện tôi đã trở nên cứng cáp và có thể sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đất nước. Sư đoàn cho tôi vào lực lượng công binh. Nghe thì đơn giản, nhưng công binh là một trong những lực lượng vất vả, nguy hiểm nhất: đào hầm, mở đường, phá bom mìn, gài mìn, dựng chốt, vận chuyển vũ khí… Chúng tôi luyện tập từ sáng đến tối, chạy bộ giữa nắng, học từng kỹ thuật gỡ mìn, cài mìn. Chỉ cần sai một ly là mất mạng. Có hôm mồ hôi ướt áo, chân tay bủn rủn, nhưng cứ nghĩ đến đồng đội, nghĩ đến nhà, tôi lại gạt đi mệt nhọc.
Tháng 5 năm 1975, chúng tôi được điều đi đào chốt 365 ở thị xã Lào Cai. Suốt nhiều ngày liền, chúng tôi đào đất, làm công sự trong tiếng trực thăng và tiếng súng vọng từ phía biên giới. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đơn vị trở về Sư đoàn đóng quân tại xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, Lào Cai. Đó là những tháng ngày tiếp tục học hỏi, huấn luyện, và được đào tạo quy chế làm việc, Tháng 2 năm 1979, chúng tôi nhận lệnh điều động lên biên giới Việt – Trung, khu vực Pắc Pó – Bản Lầu – Mường Khương. Nhiều đồng chí có nói với tôi rằng có thể đi mà sẽ không trở lại lần này sẽ không giống những nhiệm vụ trước nhưng tôi vẫn không nản trí và lên đường vì đây là cuộc chiến bảo vệ biên giới Tổ quốc.
Đại đội 121 công binh của chúng tôi gồm 70 người, được giao nhiệm vụ bảo vệ trung đoàn và tuyến biên giới dài gần 10km. Công việc chính của chúng tôi là gỡ mìn ở điểm này và gài sang điểm khác theo lệnh trên, nhằm ngăn quân địch tiến sâu vào nội địa. Mỗi bước đi đều có nhiều sự nguy hiểm. Bởi chỉ một tiếng “lách tách” nhỏ dưới chân cũng có khả năng đó là mìn của quân đội trung quốc. Chúng tôi đi theo hàng dọc, mỗi người cách nhau 5–7 mét để nếu chẳng may một quả mìn nổ, thì thiệt hại cũng giảm bớt. Quân Trung Quốc phía bên kia cũng thường xuyên cho quân xâm nhập thăm dò, nếu phát hiện lính ta, chúng sẽ lập tức báo về để bên kia xả súng như mưa. Mỗi lần nghe tiếng mìn nổ, chúng tôi phải lập tức đi kiểm tra: xem có địch lọt vào, xem mìn có bị phá, hay có đồng đội nào gặp nạn hay không.
Sáng Ngày 7/6/1980 chúng tôi nhận lệnh đi gài lại một số bãi mìn gần đường mòn mà địch thường xuyên sử dụng. Tôi đi cùng ba đồng đội thân thiết: Đồng chí Vấn, quê Phú Thọ; Đồng chí Sỹ, cũng người Phú Thọ; Đồng chí Trung, quê Hà Giang
Khi chúng tôi đang gài từng quả mìn xuống do Quân địch ở vị trí cao hơn nên phát hiện ra chúng tôi, khi đó cách vùng biên của họ 100m. Tôi chưa kịp nói gì với đồng đội thì tiếng súng xả xuống như pháo hoa về phía chúng tôi! Đất đá tung lên, tiếng đạn sát tai khiến chúng tôi không kịp bỏ chạy. Một loạt đạn trúng vào bãi mìn chúng tôi vừa gài mìn kích nổ, cơ thể tôi bị hất bật ra xa và bất tỉnh, chưa biết bất tỉnh bao lâu, chỉ nhớ lúc mở mắt ra thì chân bên trái toàn máu be bét. Bên cạnh, đồng chí Vấn và Sỹ đều bị thương nặng ở chân và vai, đồng chí Trung thì bị nhiều mảnh đạn găm vào lưng. Không lâu sau, đội ứng cứu của Đại đội 121 tới nơi cõng từng người chúng tôi trên lưng chạy gần 5km để đưa về căn cứ. Chúng tôi được đưa vào Bệnh viện 94 – huyện Bảo Yên cấp cứu. Nhờ sự tận tình của bác sĩ, sự kiên cường của cả bốn anh em, sau hai tháng điều trị chúng tôi đều sống , tôi bị thương tật ở chân đi lại cực khó khăn. Khi đơn vị kiểm tra sức khỏe, chỉ có hai người không đủ điều kiện phục vụ chiến đấu nữa: tôi và đồng chí Vấn. Không ai muốn rời quân ngũ khi cuộc chiến còn chưa kết thúc nhưng vẫn phải trở về. Năm 1981, tôi xuất ngũ và trở về quê nhà Võ Lao, mang theo ký ức chiến tranh không bao giờ quên được.



