HOÀNG VĂN THỤ – NGỌC NÁT CÒN HƠN GIỮ NGÓI LÀNH
*LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử của một dân tộc không bao giờ là những con số đứng yên trên những trang sách ngả màu, mà là một dòng chảy đỏ rực được dệt nên từ xương máu, từ nước mắt và ý chí sắt đá của muôn thế hệ. Trên hành trình đập tan xiềng xích nô lệ trước năm 1945, đã có một thời đại mà những người trẻ gác lại mọi ước mơ riêng tư, bình thản bước vào chốn lao tù, ngẩng cao đầu chấp nhận đánh đổi cả thanh xuân để đổi lấy bình minh cho Tổ quốc. Họ đã hóa thân thành những ngọn lửa rực cháy, thiêu rụi đêm đen thực dân để soi đường cho cả một thế hệ đi tới. Hòa vào dòng chảy thiêng liêng ấy, cuộc thi “Câu chuyện thời hoa lửa” chính là nhịp cầu tâm thức, đưa người trẻ hôm nay lội ngược dòng thời gian để nghiêng mình trước những tượng đài bất tử.
Trong ngút ngàn những đóa hoa lửa kiên cường của dân tộc, đồng chí Hoàng Văn Thụ rực sáng lên như một biểu tượng tột cùng của khí phách gang thép. Không chỉ là một nhà lãnh đạo kiệt xuất – người giữ lửa cho Xứ ủy Bắc Kỳ và Mặt trận Việt Minh trong những ngày bão táp – ông còn là một tâm hồn thơ lãng mạn cách mạng, một nhân cách kết tinh trọn vẹn đức tính cần, kiệm, liêm, chính. Cuộc đời ngắn ngủi 35 năm của ông không đo bằng độ dài tháng năm, mà được đo bằng độ rực rỡ của lý tưởng và khí phách hiên ngang, ngạo nghễ mỉm cười ngay cả khi đứng trước họng súng quân thù."
I. Từ người con vùng biên ải đến hành trình tìm ánh sáng cách mạng
Hoàng Văn Thụ (tên khai sinh là Hoàng Ngọc Thụ) sinh ngày 4 tháng 11 năm 1909 trong một gia đình nông dân dân tộc Tày có truyền thống yêu nước và hiếu học tại làng Phạc Lạng, tổng Nhân Lý, châu Văn Uyên (nay là thôn Nhân Hòa, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn). Những năm tháng học tập tại Trường Tiểu học Pháp - Việt ở thị xã Lạng Sơn, được chứng kiến phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu (1925) và lễ để tang cụ Phan Chu Trinh (1926) đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước trong lòng người thiếu niên trẻ tuổi. Ông bắt đầu tham gia rải truyền đơn và tìm hiểu các tài liệu của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Tháng Giêng năm 1928, Hoàng Văn Thụ cùng người bạn đồng chí Lương Văn Tri quyết định rời quê hương, vượt biên sang Long Châu (Trung Quốc) để tìm con đường cứu nước. Với bí danh Lôi Minh Hạ, ông chấp nhận cuộc sống gian khổ, vừa làm thợ cơ khí để kiếm sống, vừa kiên trì thâm nhập, giác ngộ và gây dựng các cơ sở quần chúng bí mật. Từ một thanh niên yêu nước, ông được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên rồi chính thức đứng vào hàng ngũ của Đông Dương Cộng sản Đảng năm 1929, sẵn sàng dấn thân vì độc lập dân tộc.
II. Bản lĩnh người chiến sĩ tiền bối và duyên nợ với mảnh đất Thái Nguyên
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đồng chí Hoàng Văn Thụ lăn lộn khắp vùng biên giới để gieo hạt giống cách mạng. Giữa năm 1938, trước yêu cầu cấp bách của phong trào, ông được Xứ ủy Bắc Kỳ phân công tăng cường chỉ đạo, củng cố và phát triển cơ sở Đảng tại các tỉnh, trong đó có mảnh đất Thái Nguyên giàu truyền thống. Từng bước chân âm thầm, từng lớp huấn luyện bí mật của ông tại Thái Nguyên, Hà Nội, Vĩnh Yên... đã giữ vững mạch máu cách mạng trước sự lùng sục, vây ráp gắt gao của kẻ thù.
Tháng 9 năm 1939, tại Hội nghị Xứ ủy Bắc Kỳ mở rộng ở Vạn Phúc (Hà Đông), đồng chí Hoàng Văn Thụ được Trung ương Đảng tin tưởng cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Dưới sự lãnh đạo nhạy bén của ông, phong trào rút vào hoạt động bí mật một cách khôn khéo. Khi Hội nghị Trung ương 7 (tháng 11 năm 1940) đang diễn ra tại Đình Bảng thì bốt lính Pháp ập tới, chính sự quyết đoán đập tay phát lệnh "Động rồi!" của ông đã giúp các lãnh đạo chủ chốt kịp thời di chuyển tài liệu và rút lui an toàn.
Đến Hội nghị Trung ương 8 tại Pác Bó (tháng 5 năm 1941) dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ông tiếp tục được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng, đặc trách công tác công vận, binh vận và giữ chức Bí thư Tổng bộ Việt Minh. Trước khi về xuôi, khoảnh khắc Bác Hồ tự tay trao tặng ông khẩu súng ngắn cùng lời căn dặn: "Phải phòng bị, chúc bình an" đã trở thành nguồn động lực tinh thần to lớn, giúp ông vượt qua muôn vàn nguy hiểm, xuất sắc 10 lần khôi phục lại Thành ủy Hà Nội sau những trận càn quét khủng bố của địch.
III. Lời tuyên ngôn đanh thép trước pháp trường Tương Mai
Ngày 25 tháng 8 năm 1943, do sự chỉ điểm của kẻ phản bội, đồng chí Hoàng Văn Thụ bị mật thám Pháp bắt giữ tại ngõ Nam Diệm, khu Tám Mái (Hà Nội). Kẻ thù đưa ông về giam tại Nhà tù Hỏa Lò và điên cuồng thực hiện hơn 20 trận tra tấn cực hình xuyên đêm hòng lay chuyển người lãnh đạo cao cấp của Đảng. Thế nhưng, thứ chúng nhận lại chỉ là sự bất lực trước ý chí sắt đá của người cộng sản. Trong ngục tối, ông vẫn kiên cường động viên đồng chí Trần Đăng Ninh và các anh em: "Có đau thì cũng cố chịu nhé. Đừng quên Tổ quốc và Đảng".
Không khuất phục được ông, thực dân Pháp đã hằn học tuyên bản án tử hình. Rạng sáng ngày 24 tháng 5 năm 1944, thực dân Pháp đưa ông ra pháp trường Tương Mai. Trước họng súng quân thù, ông ung dung từ chối bịt mắt và dõng dạc để lại lời tuyên ngôn bất tử:
"Trong cuộc đấu tranh sinh tử giữa chúng tôi, những người mất nước và các ông những kẻ cướp nước, sự hy sinh của những người như tôi là lẽ dĩ nhiên, chỉ biết rằng cuối cùng chúng tôi sẽ chiến thắng…”
Khi cha cố hỏi có muốn rửa tội không, ông đập tan sự xảo trá của kẻ thù bằng lý lẽ đanh thép:
"Cảm ơn ông, tôi không có tội gì. Nếu yêu nước, cứu nước là có tội thì những người Pháp hiện giờ đang đấu tranh chống phát xít Đức bên nước ông đều là có tội cả. Ông hãy về hỏi xem họ có tội không?"
Tiếng súng vang lên ở tuổi 35, lời hô vang "Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!" của ông dội vào lòng Hà Nội, trở thành phát súng lệnh thức tỉnh lòng tự tôn của hàng triệu đồng bào đứng lên làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại chỉ một năm sau đó.
IV. Người chiến sĩ với những vần thơ lãng mạn cách mạng
Hoàng Văn Thụ không chỉ là một nhà hành động, ông còn là một nhà thơ cách mạng lỗi lạc. Những vần thơ của ông viết bằng cả tiếng Tày, tiếng Nùng và tiếng Việt luôn chứa chan lý tưởng sống cao đẹp. Khi bị người cha vợ (một võ quan sơ cấp của Pháp) viết thư dụ dỗ đầu hàng, ông đã viết bài thơ "Đoạn tuyệt" đầy khí phách để khẳng định chí hướng của mình:
"...Cha say mê bên thiếu nữ yêu kiều
Con tận tuỵ với tình yêu tổ quốc
Cha thì đem tài năng và trí óc
Mưu vinh thân là mục đích cuối cùng
Thì con đang mang xương trắng máu hồng
Để cứu vớt non sông là ý nguyện..."
Và trước khi bước ra pháp trường, ông đã kịp gửi lại cho người đồng chí, người bạn đời đính hôn của mình là bà Hoàng Ngân bài thơ tuyệt mệnh "Nhắn bạn" bất hủ:
"Việc nước xưa nay có bại thành, Miễn sao giữ trọn được thanh danh, Phục thù, chí lớn không hề nản, Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành..."
Tình yêu đôi lứa hòa chung trong tình yêu Tổ quốc rộng lớn, để rồi sau này, khi cả hai đều đã hy sinh, hài cốt của họ lại được đưa về nằm cạnh nhau tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội – một cái kết vĩnh hằng cho một tình yêu cách mạng cao đẹp.
.
V. Vĩ thanh: Khí phách "Ngọc nát" trên không gian số hôm nay
Là sinh viên K23 của mái trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Thái Nguyên – nơi chính người anh hùng Hoàng Văn Thụ từng lặn lội gây dựng cơ sở cách mạng năm xưa – khi lật lại những trang sử thấm đẫm máu và hoa này, em tự hỏi: Hòa bình hôm nay có hình hài ra sao? Nó không chỉ là màu xanh của bầu trời, mà là màu máu của những người đi trước đã hòa vào lòng đất mẹ đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ca ngợi: "Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to".
Thế hệ chúng em hôm nay may mắn không còn phải đối mặt với súng đạn, bom rơi, nhưng lại đang đứng trước những phép thử khác trên không gian số, trong kỷ nguyên toàn cầu hóa – nơi mà việc gìn giữ bản sắc và giá trị dân tộc trở nên thách thức hơn bao giờ hết. Nếu ngày xưa, người anh hùng Hoàng Văn Thụ dùng ngòi bút cách mạng, dùng khẩu súng phòng bị của Bác trao và xương máu để vạch trần tội ác kẻ thù; thì ngày nay, cuộc chiến bảo vệ chủ quyền văn hóa và lòng tự tôn dân tộc lại diễn ra trên từng dòng code, từng sản phẩm truyền thông đa phương tiện của chúng em.
Khí phách "Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành" của anh hùng Hoàng Văn Thụ nhắc nhở chúng em rằng: Dù ở thời đại nào, người trẻ cũng cần giữ trọn tấm lòng thành với quê hương. Câu chuyện thời hoa lửa của ông sẽ mãi là "bản tin" chân thực nhất, xúc động nhất, để chúng em – những người trẻ hôm nay – biết sống bản lĩnh, trách nhiệm, mang tư duy và kỹ năng công nghệ để cống hiến và xứng đáng với từng nhịp thở của tự do.
Chân dung Hoàng Văn Thụ tại Hỏa Lò, Hà Nội
*NGUỒN TÀI LIỆU:
- Báo Quân Đội Nhân Dân
- Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia
- Báo Cao Bằng Điện Tử
- Hình ảnh: Wikipedia



