HOÀNG VĂN THƯỢNG - Người anh hùng sáng mãi những chiến công "thời hoa lửa"
Đó là Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hoàng Văn Thượng, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Cao Bằng từ năm 2007 đến nay. Nhiều người quý mến anh, trân trọng anh không chỉ vì anh là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân mà trong công việc cũng như trong đời thường, anh là một người công tâm, hết lòng vì anh em, đồng đội.
Là người con của dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên từ một gia đình nghèo ở Bản Giăn, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh (Cao Bằng). Vừa được 9 tuổi thì mẹ mất sớm, rồi vài năm sau đó bố lại ốm yếu, bệnh tật nên tuổi niên thiếu ngây thơ, trong trắng của anh đã không được hưởng những tháng ngày vô tư, nhàn nhã như một số bạn bè cùng trang lứa. Thế vào đó là sự tần tảo, nhọc nhằn, vừa đi học, vừa lao động cật lực để nuôi bố và em gái. Vậy là đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó, tự lập đã hình thành trong anh ngay từ thuở mới lớn. Học xong lớp 7, được sự đồng ý của bố, anh xin đi làm công nhân thủy lợi những mong có thêm đồng tiền thuốc thang cho bố và chu cấp việc học hành của em gái. Là một học sinh nghèo, hiếu học, những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường cấp 1, cấp 2 của xã, qua bài giảng của các thầy, cô giáo, tình yêu quê hương đất nước trong anh cũng ngày một lớn lên. Anh yêu tha thiết quê hương Trùng Khánh "Sơn thuỷ hữu tình" có dòng sông Quây Sơn trong xanh, ôm ấp lấy các bản làng núp dưới những hàng tre cong vút, tựa lưng vào những trái núi, những quả đồi, những cánh đồng bốn mùa xanh lúa, xanh ngô và tự hào về những người con anh hùng của quê nhà, như: La Văn Cầu, Phùng Văn Khầu, Triệu Báo... Những nét đẹp truyền thống ấy đã hun đúc trong anh tinh thần sẵn sàng "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" nên khi vừa tròn 20 tuổi có giấy gọi nhập ngũ, anh không một phút đắn đo đến thẳng Huyện đội Trùng Khánh. Mặc dù được Ban chỉ huy công trường tìm mọi cách níu kéo, xin anh được hoãn tòng quân, nhưng anh đã cảm ơn sự "níu kéo" đó và quyết tâm lên đường. Vậy là ngày 16/4/1968, đời anh sang một trang mới, chính thức được đứng vào hàng quân của những người "lính Cụ Hồ" thuộc đơn vị H20, D4 đặc công, F305.
Mạch chuyện như một dòng chảy rì rào cứ dâng trào trong dòng cảm xúc, những dòng lệ chảy dài trên gò má, giọng nói của anh đằm lại:
- Anh biết không? Cái... giây... phút... tạm biệt người bố ốm... yếu và đứa... em gái... nhỏ để tòng quân, tôi xúc động lắm! Bố tôi vừa run run nắm chặt tay tôi vừa dặn: "Ở nhà, con đã là một người con ngoan, vì bố, vì em mà lo tròn mọi việc. Đến đơn vị, con phải làm tốt hơn đấy nhé!". Cho đến bây giờ đã hơn nửa thế kỷ, mình đã vào tuổi thất tuần và người cha đã trở thành người thiên cổ, nhưng mỗi khi nghĩ lại, mình vẫn không sao cầm được nước mắt!.
Sau vài giây đưa khăn mùi xoa lên chấm chấm ở góc mắt, anh trở lại đĩnh đạc như cái đĩnh đạc của người lính chiến sau trận thắng lớn, anh sôi nổi:
- Kể ra tôi cũng là một trong những người lính gặp nhiều may mắn! Gần 20 năm cầm súng, hết đánh Mỹ đến đánh bọn diệt chủng Pôn Pốt, rồi lại lao vào các trận chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, với hàng trăm lần luồn sâu, nắm địch và trực tiếp chiến đấu 23 trận lớn nhỏ trên chiến trường miền Nam, mà vẫn tồn tại đến tận hôm nay thì quả là may mắn phải không anh?.
Ngưng một lát, anh bắt đầu kể cho chúng tôi nghe những năm tháng hào hùng với những trận chiến đấu nảy lửa bằng giọng nói tự hào và gương mặt rạng rỡ:
- Sau 6 tháng huấn luyện ở Chương Mỹ, Hà Tây đến tháng 12/1968, tôi cùng đồng đội hành quân vào chiến trường "Trị Thiên khói lửa" và trận đánh đầu tiên là tìm diệt 100 tên lính Mỹ ở gần cao điểm 544, thuộc huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Căm thù những hành động của bọn địch ngày ngày đi càn quét tìm diệt các tổ chức cách mạng trong vùng, gây nhiều đau thương, tang tóc cho bà con mình nên cả đơn vị đều hạ quyết tâm tiêu diệt bằng được bọn lính Mỹ này. Để tiếp cận, bắt buộc các cán bộ, chiến sỹ đơn vị đã hóa trang bôi than toàn thân từ chiều hôm trước, đến tờ mờ sáng hôm sau phải bò qua một bãi trống gần 1 cây số. Dấu ấn khó quên trong trận đánh đầu tiên này là khi chuẩn bị xuất kích, tôi vinh dự được kết nạp Đảng, do đó tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" càng thôi thúc tôi xung trận. Song một tình huống diễn ra ngoài dự kiến, khi cả trung đội bò vào khu nhà bạt, nơi trú quân của bọn lính Mỹ này thì chẳng thấy mống nào. Chỉ huy ra lệnh đi tiếp. Không một phút đắn đo, tôi liền đề xuất cần phải mật phục ngay tại những nhà bạt này, chờ nó đến là đánh nhanh, diệt gọn, không để một tên sống sót. Kết thúc trận đánh, tôi được anh em đồng đội càng quý mến, nể phục, được Chỉ huy biểu dương, khen ngợi. Vậy là ra quân trận đầu thắng lợi, tôi càng phấn khích chuẩn bị bước vào những trận chiến đấu tiếp theo.
Đến năm 1970, được Chỉ huy cho ra Bắc nghỉ về ăn tết với gia đình 4 ngày. Nhưng 4 ngày nghỉ đã bị những cơn sốt rét ác tính hành hạ, song với ý thức "kỷ luật sắt" của người lính, tôi đã có mặt tại đơn vị đúng quy định. Sau ít ngày, cả Tiểu đoàn được lệnh hành quân thần tốc vào chiến trường miền Đông Nam Bộ, tôi được phong hàm Thượng sỹ, Trung đội phó thuộc C2, D13, Đoàn 429 đặc công. Lần này, Tiểu đoàn hành quân sang Công Pông Chàm (Campuchia) thực hiện nhiệm vụ cản phá "cuộc càn quét Đông Dương" của Mỹ - Ngụy với âm mưu hòng san bằng Bộ Chỉ huy Miền của ta. Tại đây khi chuẩn bị đánh trận Am Búp thì căn bệnh sốt rét ác tính lại quật tôi đến mức muốn thả bát cháo trên tay xuống mà không thả nổi, song, tôi vẫn xung phong ra trận với quyết tâm cùng đồng đội tiêu diệt bằng được Chiến đoàn 33 Ngụy, một cứ điểm được bố phòng rất nghiêm ngặt. Sau khi cắt xong ba lớp rào bùng nhùng xen kẽ bên trong là gai xấu hổ dày đặc phải kết hợp dùng răng cắn để kịp giờ nổ súng đã hiệp đồng tác chiến là 1h30' sáng. Trong trận này, tôi đã dùng tay không hạ gục một tên lính gác và thu khẩu AR15 của nó, bảo đảm bí mật tuyệt đối và cùng đồng đội tiêu diệt 300 tên địch, thu nhiều vũ khí cùng chiến lợi phẩm, riêng mũi tiến công của Đại đội 2 đã diệt 120 tên địch. Sau chiến thắng này, tôi được Bộ Chỉ huy Miền mời đi trực tiếp báo cáo kết quả của trận đánh trước lớp tập huấn cán bộ trung cao cấp toàn Miền, tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba, tập thể Đại đội được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba. Những phần thưởng cao quý này đã tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi tiến vào những trận chiến đấu tiếp theo.
Anh rót chén trà nóng mời tôi, rồi kể tiếp:
- Một lần nhận nhiệm vụ luồn sâu, khảo sát tình hình bố phòng của Chiến đoàn 25 Ngụy tại Dầu Tiếng, tôi đã vượt qua một tình thế hiểm nghèo, đó là sau khi vượt qua 12 hàng rào, luồn vào đến chân tường căn cứ địch thì bị lộ. Địch dùng pháo sáng và đèn pha cực mạnh quét sáng cả khu vực, tôi rơi vào tình thế tiến không được, lui cũng không xong. Rất may ở gần có một thùng phi trống rỗng, tôi liền nhảy vào đó nấp cả ngày, chờ đến 8 giờ tối mới mò ra được. Khi đến điểm an toàn thì gặp đồng đội vào tìm vì cứ ngỡ tôi đã hy sinh nên vừa gặp nhau, các anh ôm chầm lấy tôi, giọng lạc đi trong nước mắt: "Bọn tao cứ tưởng mày hy sinh rồi"! Cho đến bây giờ khoảnh khắc xúc động thiêng liêng ấy - cái khoảnh khắc chỉ những người lính chiến mới có được vẫn sống động trong tôi. Nhờ được đi khảo sát trước, tôi cùng 4 chiến sỹ được giao đảm nhận mũi chủ lực thọc sâu vào trung tâm chỉ huy của địch. Trong trận đánh này, tôi chủ động ném 4 trái thủ pháo vào khu địch đồn trú. Bị bất ngờ, địch hoảng loạn, bị thương vong, la hét thảm thiết. Khi vọt ra ngoài, gặp một số đồng đội hy sinh, bản thân tôi bị thương và ngất đi, tỉnh lại thấy máu chảy ướt đầm người, nhưng tôi đã cố gắng lết người vượt qua nhiều lớp rào kẽm gai trở về hậu cứ. Kết thúc trận đánh, ta tiêu diệt 120 tên địch, thu nhiều vũ khí, đạn dược và nhiều chiến lợi phẩm. Đơn vị được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba, tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.
Sau một thời gian củng cố, huấn luyện nâng cao trình độ kỹ, chiến thuật, ngày 4/4/1972, đơn vị hiệp đồng với đơn vị bạn mở đợt tiến công vào căn cứ Lai Khê do Sư đoàn 18 và Sư đoàn 25 Ngụy chốt giữ, anh là người trực tiếp chỉ huy đơn vị luồn lách qua 12 hàng rào và nhiều chiến hào chống tăng của địch, nổ súng đúng thời gian hiệp đồng diệt 100 tên. Đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng hai. Riêng cá nhân anh được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba, được Bộ Chỉ huy tuyên dương hành động anh hùng. Tiếp đó là các trận đánh Chi khu Bến Cát, trận đánh chiếm Kho Phước Vĩnh... Khi chúng tôi hỏi những trận đánh trong Chiến dịch Hồ Chí Minh mà anh tham gia, anh hào hứng:
- Ngày 25/4/1975, tôi được điều về làm Chính trị viên Tiểu đoàn 13, Đoàn 429 đặc công của Miền. Sau một ngày củng cố lực lượng, đơn vị xuất kích đánh chiếm trung tâm thông tin Ra đa Phú Lâm, thuộc quận 6 Sài Gòn nhằm cắt đứt liên lạc của Ngụy trên mọi hướng, kể cả liên lạc với nước ngoài. Để chắc thắng, tôi cùng đơn vị thọc sâu, áp sát các điểm trọng yếu để nổ súng mở màn cho Chiến dịch đánh vào trung tâm Sài Gòn. Sau 3 ngày chiến đấu, giằng co ác liệt, đến 9h30' ngày 30/4/1975, đơn vị đã làm chủ hoàn toàn trận địa, vô hiệu hóa mọi hướng thông tin liên lạc của Ngụy quyền Sài Gòn, góp phần cùng toàn quân giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng hai.
Cứ ngỡ sau khi miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước, mình sẽ được chuyển về quê nhà công tác để có điều kiện chăm sóc gia đình, nhưng cuối năm 1977, xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam, tôi được lệnh dẫn đơn vị hành quân lên biên giới Campuchia để chặn đánh sự gây rối, xâm lấn của quân phiến loạn Pôn Pốt. Phải ròng rã hơn 1 năm trời, đơn vị mới cùng các đơn vị bạn đánh tan đạo quân tàn bạo, dã man này, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Đến tháng 12/1978, tôi được điều về Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng công tác thì cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, tôi lại cùng đồng đội lao vào cuộc chiến đấu mới. Sau hơn 1 tháng trời, vừa chiến đấu, vừa vận động nhân dân vùng biên giới bám đất, bám làng "một tấc không đi, một ly không rời", bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Đến khi tình hình biên giới bớt căng thẳng, tôi mới chính thức được trở về Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng công tác.
Sau 49 năm gắn bó với binh nghiệp, trong đó có 20 năm trực tiếp cầm súng chiến đấu, Hoàng Văn Thượng, một chiến sỹ đặc công đã luồn sâu, khảo sát 131 căn cứ của địch, trực tiếp chiến đấu 23 trận lớn nhỏ, diệt gần 100 tên Mỹ, Ngụy, thu 1 khẩu AR15. Với những chiến công lừng lẫy đó, anh đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 12 huân, huy chương các loại. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hoàng Văn Thượng thật xứng đáng là tấm gương ngời sáng để lớp lớp thế hệ trẻ học tập, noi theo.



