HOÀNG VĂN THƯỢNG – NGƯỜI CHIẾN SĨ ĐẶC CÔNG GIỮA THỜI HOA LỬA
Từ cậu bé nghèo đến người lính Ở Bản Giăn, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, Cao Bằng, có một cậu bé dân tộc Tày tên Hoàng Văn Thượng. Tuổi thơ của Thượng không giống nhiều đứa trẻ khác. Năm anh lên 9 tuổi, mẹ qua đời. Vài năm sau, cha lại đau yếu, bệnh tật. Cậu bé phải vừa đi học, vừa làm việc để phụ giúp gia đình, chăm sóc cha và lo cho em gái. Học hết lớp 7, Thượng xin đi làm công nhân thủy lợi. Cuộc sống khó khăn khiến anh sớm hình thành tính cách tự lập, chịu khó và kiên cường. Nhưng bên cạnh những nhọc nhằn của cuộc sống, trong lòng người thanh niên ấy luôn có một tình yêu sâu sắc với quê hương. Anh yêu dòng sông Quây Sơn, yêu những bản làng, những cánh đồng của Trùng Khánh và đặc biệt tự hào về những người anh hùng của quê hương như La Văn Cầu, Phùng Văn Khầu, Triệu Báo.

HOÀNG VĂN THƯỢNG – NGƯỜI CHIẾN SĨ ĐẶC CÔNG GIỮA THỜI HOA LỬA
Từ cậu bé nghèo đến người lính
Ở Bản Giăn, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, Cao Bằng, có một cậu bé dân tộc Tày tên Hoàng Văn Thượng.
Tuổi thơ của Thượng không giống nhiều đứa trẻ khác.
Năm anh lên 9 tuổi, mẹ qua đời. Vài năm sau, cha lại đau yếu, bệnh tật. Cậu bé phải vừa đi học, vừa làm việc để phụ giúp gia đình, chăm sóc cha và lo cho em gái.
Học hết lớp 7, Thượng xin đi làm công nhân thủy lợi.
Cuộc sống khó khăn khiến anh sớm hình thành tính cách tự lập, chịu khó và kiên cường.
Nhưng bên cạnh những nhọc nhằn của cuộc sống, trong lòng người thanh niên ấy luôn có một tình yêu sâu sắc với quê hương.
Anh yêu dòng sông Quây Sơn, yêu những bản làng, những cánh đồng của Trùng Khánh và đặc biệt tự hào về những người anh hùng của quê hương như La Văn Cầu, Phùng Văn Khầu, Triệu Báo.
Những câu chuyện về họ đã gieo vào lòng anh một khát vọng.
Nếu Tổ quốc cần, mình cũng phải lên đường.
Năm 1968, khi vừa tròn 20 tuổi, Hoàng Văn Thượng nhận giấy gọi nhập ngũ.
Ban chỉ huy công trường nơi anh đang làm việc muốn giữ anh lại, xin hoãn việc nhập ngũ.
Nhưng anh từ chối.
Ngày 16/4/1968, anh chính thức trở thành người lính thuộc đơn vị H20, D4 đặc công, F305.
Trước ngày lên đường, cha nắm chặt tay anh và dặn:
“Ở nhà, con đã là một người con ngoan... Đến đơn vị, con phải làm tốt hơn đấy nhé!”
Lời dặn ấy theo anh suốt những năm tháng chiến đấu.
TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN Ở TRỊ - THIÊN
Sau 6 tháng huấn luyện tại Chương Mỹ, Hà Tây, tháng 12/1968, Hoàng Văn Thượng cùng đồng đội hành quân vào chiến trường Trị - Thiên.
Trận chiến đầu tiên của anh là nhiệm vụ đánh vào lực lượng khoảng 100 lính Mỹ gần cao điểm 544, huyện Gio Linh, Quảng Trị.
Để tiếp cận mục tiêu, những người lính đặc công phải hóa trang, bôi than lên toàn thân rồi bò qua một bãi trống dài gần một cây số.
Từng mét đất phía trước đều có thể chứa nguy hiểm.
Chỉ cần một tiếng động.
Một ánh sáng.
Một người lính địch phát hiện.
Cả đội hình có thể bị lộ.
Nhưng đúng trước giờ xuất kích, Hoàng Văn Thượng còn nhận được một niềm vinh dự đặc biệt: anh được kết nạp vào Đảng.
Niềm tin ấy càng khiến anh quyết tâm hơn.
Đơn vị bò đến khu nhà bạt – nơi quân Mỹ được cho là đang trú quân.
Nhưng khi đến nơi, họ phát hiện không có một người lính nào.
Chỉ huy ra lệnh tiếp tục tiến lên.
Trong khoảnh khắc ấy, Hoàng Văn Thượng đưa ra một đề xuất táo bạo:
Không đi tiếp. Mật phục ngay tại đây và chờ đối phương quay trở lại.
Đề xuất được chấp thuận.
Những người lính đặc công âm thầm ẩn mình giữa bóng tối.
Họ chờ đợi.
Rồi quân địch xuất hiện.
Trận đánh bắt đầu.
Bằng sự bất ngờ và cách đánh đặc công, đơn vị đã giành thắng lợi.
Đó là trận ra quân đầu tiên của người lính trẻ Hoàng Văn Thượng.
Và cũng từ trận đánh ấy, anh bắt đầu được đồng đội và cấp trên tin tưởng.
TRẬN AM BÚP – KHI BỆNH TẬT KHÔNG THỂ NGĂN NGƯỜI LÍNH RA TRẬN
Năm 1970.
Sau một lần được nghỉ phép về quê ăn Tết chỉ 4 ngày, Hoàng Văn Thượng lại bị sốt rét ác tính hành hạ.
Nhưng anh vẫn trở lại đơn vị đúng thời gian quy định.
Không lâu sau, đơn vị nhận lệnh hành quân thần tốc vào chiến trường miền Đông Nam Bộ.
Hoàng Văn Thượng lúc này là Thượng sĩ, Trung đội phó thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 13, Đoàn 429 đặc công.
Đơn vị tiến sang Công Pông Chàm, Campuchia, thực hiện nhiệm vụ chống cuộc càn quét của lực lượng Mỹ - Ngụy.
Mục tiêu lần này là Chiến đoàn 33 Ngụy tại khu vực Am Búp.
Đây là một cứ điểm được bố phòng rất nghiêm ngặt.
Nhưng đúng lúc chuẩn bị chiến đấu, căn bệnh sốt rét lại tái phát.
Thượng yếu đến mức bát cháo cầm trên tay cũng muốn rơi xuống mà không thể giữ nổi.
Nhưng anh vẫn xin được ra trận.
Đêm xuống.
Các chiến sĩ bắt đầu tiếp cận cứ điểm.
Ba lớp hàng rào bùng nhùng chắn phía trước.
Bên trong còn có những lớp gai xấu hổ dày đặc.
Để kịp giờ nổ súng hiệp đồng lúc 1 giờ 30 sáng, những người lính phải nhanh chóng phá từng lớp rào.
Có những đoạn phải dùng cả răng để cắn dây.
Không được gây tiếng động.
Không được để đối phương phát hiện.
Hoàng Văn Thượng tiếp tục tiến lên.
Đến gần vị trí lính gác, anh bất ngờ áp sát và hạ gục người lính gác bằng tay không, sau đó thu được một khẩu AR15.
Bí mật của trận đánh vẫn được giữ nguyên.
Rồi giờ nổ súng đến.
Trận đánh bùng nổ.
Trong cuộc tiến công, lực lượng của ta tiêu diệt khoảng 300 quân địch, riêng mũi tiến công của Đại đội 2 do Thượng tham gia đã diệt khoảng 120 tên và thu nhiều vũ khí.
Sau chiến thắng, Hoàng Văn Thượng được Bộ Chỉ huy Miền mời báo cáo trực tiếp kết quả trận đánh trước lớp tập huấn cán bộ trung, cao cấp toàn Miền.
Anh được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba.
Nhưng với người lính đặc công ấy, phần thưởng lớn nhất có lẽ vẫn là được cùng đồng đội trở về sau trận đánh.
ẨN MÌNH TRONG THÙNG PHI GIỮA CĂN CỨ ĐỊCH
Một lần khác, Hoàng Văn Thượng nhận nhiệm vụ luồn sâu để khảo sát hệ thống phòng thủ của Chiến đoàn 25 Ngụy tại Dầu Tiếng.
Nhiệm vụ đòi hỏi người lính phải tiếp cận thật sâu vào căn cứ đối phương.
Thượng cùng đồng đội vượt qua 12 hàng rào.
Từng lớp một.
Từng bước một.
Cuối cùng, anh đã tiến đến sát chân tường căn cứ.
Nhưng đúng lúc ấy...
Bị lộ.
Pháo sáng lập tức được bắn lên.
Đèn pha cực mạnh quét khắp khu vực.
Ánh sáng khiến mọi nơi gần như không còn chỗ ẩn nấp.
Tiến lên không được.
Lùi lại cũng không xong.
Hoàng Văn Thượng nhìn quanh.
Và rồi anh phát hiện một thùng phi trống.
Không còn lựa chọn nào khác.
Anh nhảy vào thùng phi và nằm im.
Cả ngày hôm ấy, anh phải ẩn mình trong đó.
Bên ngoài là quân địch.
Bên trong là một người lính đang chờ thời cơ sống sót.
Mãi đến 8 giờ tối, anh mới dám chui ra và tìm đường trở về.
Khi đến điểm an toàn, đồng đội nhìn thấy anh thì gần như không tin vào mắt mình.
Họ đã nghĩ anh hy sinh.
Những người lính ôm chầm lấy nhau.
Có người bật khóc:
“Bọn tao cứ tưởng mày hy sinh rồi!”
Đó là khoảnh khắc mà Hoàng Văn Thượng nhớ mãi.
Bởi giữa chiến tranh, có những tình cảm chỉ những người từng cùng nhau đi qua ranh giới sống chết mới có thể hiểu được.
TRẬN ĐÁNH DẦU TIẾNG – KHI NGƯỜI LÍNH BỊ THƯƠNG VẪN BÒ VỀ
Sau lần khảo sát ấy, Hoàng Văn Thượng cùng 4 chiến sĩ được giao đảm nhận mũi chủ lực, thọc sâu vào trung tâm chỉ huy của địch.
Trận chiến bắt đầu.
Thượng chủ động ném 4 quả thủ pháo vào khu vực địch trú đóng.
Sự bất ngờ khiến đối phương hoảng loạn.
Tiếng nổ vang lên.
Khói lửa bao trùm.
Những người lính đặc công nhanh chóng tiến công.
Nhưng khi rút ra ngoài, Hoàng Văn Thượng nhìn thấy một số đồng đội đã hy sinh.
Bản thân anh cũng bị thương và ngất đi.
Khi tỉnh lại...
Máu đã chảy ướt đẫm người.
Nhưng anh không nằm lại.
Anh cố gắng bò.
Bò qua những lớp hàng rào kẽm gai.
Bò từng mét một.
Cho đến khi trở về được hậu cứ.
Trận đánh kết thúc với khoảng 120 quân địch bị tiêu diệt, cùng nhiều vũ khí và đạn dược bị thu giữ.
Đơn vị được tặng Huân chương Quân công hạng Ba.
Còn Hoàng Văn Thượng nhận Huân chương Chiến công hạng Ba.
LAI KHÊ – 12 HÀNG RÀO VÀ MỘT CUỘC ĐỘT KÍCH
Ngày 4/4/1972, đơn vị của Hoàng Văn Thượng phối hợp với lực lượng bạn mở cuộc tiến công vào căn cứ Lai Khê, nơi có lực lượng Sư đoàn 18 và Sư đoàn 25 Ngụy chốt giữ.
Một lần nữa, người lính đặc công phải luồn sâu.
Một lần nữa, trước mặt là những hàng rào và chiến hào chống tăng.
Hoàng Văn Thượng trực tiếp chỉ huy lực lượng vượt qua 12 hàng rào cùng nhiều chiến hào của đối phương.
Đến đúng thời điểm hiệp đồng...
Nổ súng!
Trận đánh diễn ra quyết liệt.
Khoảng 100 quân địch bị tiêu diệt.
Đơn vị được tặng Huân chương Chiến công hạng Hai.
Riêng Hoàng Văn Thượng được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba và được Bộ Chỉ huy tuyên dương hành động anh hùng.
Sau đó, anh tiếp tục tham gia các trận đánh tại Chi khu Bến Cát, Kho Phước Vĩnh và nhiều trận chiến khác.
TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG CỦA MỘT THỜI HOA LỬA
Năm 1975.
Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu.
Ngày 25/4/1975, Hoàng Văn Thượng được điều về làm Chính trị viên Tiểu đoàn 13, Đoàn 429 đặc công.
Nhiệm vụ lần này là đánh chiếm Trung tâm thông tin Ra-đa Phú Lâm, thuộc Quận 6, Sài Gòn.
Đây là mục tiêu quan trọng bởi hệ thống thông tin liên lạc của đối phương phải bị vô hiệu hóa để phục vụ cuộc tiến công vào trung tâm Sài Gòn.
Sau một ngày củng cố lực lượng, đơn vị xuất kích.
Hoàng Văn Thượng cùng đồng đội thọc sâu, áp sát những vị trí trọng yếu.
Trận chiến bắt đầu.
Không còn là một trận đánh đơn lẻ.
Đây là những giờ phút cuối cùng của một cuộc chiến kéo dài nhiều năm.
Đơn vị phải chiến đấu và giằng co ác liệt trong 3 ngày.
Cho đến 9 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, đơn vị làm chủ hoàn toàn trận địa.
Trung tâm thông tin bị vô hiệu hóa.
Những đường liên lạc của chính quyền Sài Gòn bị cắt đứt.
Và cũng trong những giờ phút ấy, chiến dịch Hồ Chí Minh đi đến thắng lợi.
Miền Nam được giải phóng.
Đất nước bước vào một thời kỳ mới.
Hoàng Văn Thượng nhận Huân chương Chiến công hạng Hai cho chiến công này.
CHIẾN TRANH CHƯA KẾT THÚC VỚI NGƯỜI LÍNH
Có lẽ nhiều người nghĩ rằng ngày 30/4/1975 sẽ là ngày người lính đặc công ấy được trở về quê nhà.
Nhưng chiến tranh chưa thực sự kết thúc đối với Hoàng Văn Thượng.
Cuối năm 1977, chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra.
Anh lại nhận lệnh đưa đơn vị sang Campuchia.
Hơn một năm chiến đấu, đơn vị cùng các lực lượng khác đánh tan lực lượng Pôn Pốt, góp phần giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.
Tháng 12/1978, Hoàng Văn Thượng được điều về Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng.
Nhưng không lâu sau, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra.
Một lần nữa, anh khoác ba lô.
Một lần nữa, người lính ấy trở lại chiến trường.
Hơn một tháng, anh cùng đồng đội vừa chiến đấu, vừa vận động nhân dân vùng biên giới bám đất, bám làng, bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc.
Đến khi tình hình biên giới ổn định hơn, anh mới trở về công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng.
20 NĂM CẦM SÚNG
Gần 20 năm trực tiếp cầm súng, Hoàng Văn Thượng đã đi qua nhiều chiến trường.
Từ Trị - Thiên.
Đến miền Đông Nam Bộ.
Sang Campuchia.
Rồi trở về bảo vệ biên giới phía Bắc.
Ông đã có hàng trăm lần luồn sâu, nắm tình hình địch, khảo sát 131 căn cứ, trực tiếp chiến đấu 23 trận lớn nhỏ và tiêu diệt gần 100 quân Mỹ, Ngụy, thu một khẩu AR15. Ông được trao 12 huân chương, huy chương các loại.
Nhưng những con số ấy không thể kể hết câu chuyện.
Bởi phía sau mỗi con số là một lần đứng trước cái chết.
Là những đêm bò qua hàng rào.
Là những ngày nằm trong thùng phi giữa căn cứ địch.
Là những lần bị thương.
Là những người đồng đội không trở về.
Và là một người con trai Cao Bằng đã rời quê nhà năm 20 tuổi để đi vào chiến tranh.
NGƯỜI ANH HÙNG TRỞ VỀ
Sau 49 năm gắn bó với binh nghiệp, Hoàng Văn Thượng trở thành Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, từng giữ chức Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng và Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh. Ông cũng từng là đại biểu Quốc hội khóa VIII và XIII.
Nhưng khi kể về những năm tháng chiến đấu, ông không chỉ nói về chiến công.
Ông nói về người cha đã tiễn mình lên đường.
Nói về đồng đội.
Nói về những khoảnh khắc tưởng rằng mình sẽ không trở về.
Và có lẽ, sau tất cả những năm tháng ấy, điều còn lại trong ông không phải là hào quang của một người anh hùng.
Mà là sự trân trọng đối với những người đã cùng mình đi qua chiến tranh.
Từ cậu bé nghèo ở Bản Giăn...
Đến người lính đặc công bò qua những hàng rào giữa đêm...
Đến người chỉ huy trong Chiến dịch Hồ Chí Minh...
Rồi người lính bảo vệ biên giới...
Hoàng Văn Thượng đã dành phần lớn tuổi trẻ và cuộc đời mình cho quân đội.
Câu chuyện của ông cho thấy một điều:
Người anh hùng không phải là người không biết sợ. Người anh hùng là người biết mình đang đứng trước hiểm nguy nhưng vẫn bước lên phía trước khi Tổ quốc cần.
Và những chiến công của Hoàng Văn Thượng không chỉ thuộc về riêng ông.
Đó còn là ký ức của một thế hệ đã sống giữa “thời hoa lửa” – một thế hệ đã dùng tuổi trẻ, lòng dũng cảm và cả sinh mạng của mình để bảo vệ quê hương.
Hôm nay, chiến tranh đã lùi xa.
Nhưng những câu chuyện ấy vẫn cần được kể lại.
Để thế hệ trẻ hiểu rằng:
Hòa bình mà chúng ta đang có không phải tự nhiên mà đến.
Nó được xây dựng từ những bước chân của những người lính đã từng đi qua lửa đạn.
Và Hoàng Văn Thượng là một trong những người đã đi qua con đường ấy – bằng lòng quả cảm, trí tuệ, tình đồng đội và một niềm tin không lay chuyển vào Tổ quốc.



